Chương I: Lý luận chung về mâu thuẫn và phân hóa giàu nghèo. Chương 2: Thực trạng, nguyên nhân của sự phân hóa giàu nghèo trong. nên kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Cơ sở hình thành và những giải pháp, kiến nghị nhằm điều tiết sự phân hóa giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam 6.
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Sự phân hóa giàu nghèo đã được nhiều nhà lý luận có uy tín, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu ở những mức độ góc độ khác nhau. Một quốc gia, dân tộc không thể phát triển và trở thành phỏn vinh và càng không phải là một chế độ xã hội tiến bộ nếu như một bộ phận dân cư khá lớn ở đó vẫn đang bị nghèo đói. Khắc phục được điều đó cũng là giảm thiểu được khoảng cách giàu — nghèo đang gia tăng, đảm bảo sự phát triển bền vững và sự phôn vĩnh của đất nước. Vì vậy, nhiệm vụ của mỗi quốc gia dân tộc trong.
thời đại ngày nay đều phải tiến hành xóa đói, giảm nghèo với những mức độ khác nhau. “Trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, nước ta có nhiều có gắng. để khắc phục tình trạng đói nghèo sự chênh lệch giàu — nghèo vẫn còn tồn tại. Để tìm hiểu thêm kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt đối với các quốc gia đã và đang đạt được những thành công nhất định trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giảm phân hóa giàu — nghèo như Nhật Bản nhằm vận dụng nó vào sự giải quyết mối quan hệ ấy ở nước ta, tập thể tác giả Dương Phú Hiệp (chủ biên), Nguyễn Duy Dũng, Vũ Văn Hà, Dương Hồng Nhung đã có công trình “Phân hóa giàu - nghèo trong nền kinh.
tế thị trường Nhật Bản từ năm 1945 đến nay”, năm 1999, Nhà xuất bản Chính. trị quốc gia, Hà Nội. Các tác giả đề cập rất cụ thẻ những vấn đề chung về giàu. ~ nghèo ở Nhật Bản trên cơ sở so sánh với các tiêu chí giàu - nghèo ở các quốc gia, đồng thời tập trung phân tích sự giàu — nghèo trong quá trình phát triển kinh tế và tìm hiểu các chính sách, biện pháp của nhà nước và các tổ chức xã hội trong việc điều chỉnh vấn đề phân hóa giàu — nghèo.
Tập thể tác giả Lê Du Phong, Hoàng Văn Hoa, Nguyễn Văn Áng với công trình “Giải quyết vấn để phân hóa giàu nghèo ở các nước và Việt Nam”, Nhà xuất bản năm 2000, các tác giả nhận thấy phân hóa giàu nghèo là một vấn đề bức xúc trên phạm vi toàn cầu và từ sự phát triển kinh tế ở những nước. đang phát triển có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và hạn chế sự phân hóa giàu nghèo. Công trình “Giàu nghèo trong nông thôn hiện nay” do Nguyễn Văn Tiêm (chủ biên), Nhà xuất bản Nông nghiệp năm 1993, tác giả cũng trình rõ cách xác định tiêu chí nghèo và mô tả thực tế về đời sống nông dân, khoảng cách và xu hướng phân cực giàu nghèo trong nông thôn và nguyên nhân dẫn đến giàu nghèo tại thời điểm những năm đầu của thời kỳ đổi mới đất nước. Từ đó tác giả đã chỉ ra vai trò của Nhà nước và cộng đồng trong việc cải thiện cuộc sống đổi với các hộ nghèo.
Trong những năm đầu của công cuộc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở nước ta, còn có công trình nghiên cứu cấp Nhà nước do Đỗ Nguyên Phương chủ nhiệm “Về sự phân tầng xã hội ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”, tuy nội dung đề tải chủ yếu tập trung vào vấn đề phân tầng xã hội nhưng. tác giả cũng đã chỉ ra cho chúng ta thấy sự liên quan giữa phân tầng xã hội với sự phân hóa giàu — nghèo. Đề tài “'Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu. ~ nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc ở nước ta” (1999) do Lê Du Phong và Hoàng Văn Hoa là đồng tác giả cũng đã bàn rất chỉ tiết về sự phân.
hóa giàu — nghèo ở vùng dân tộc và miền núi phía Bắc ở nước ta. Từ thực tiễn nền kinh tế mới được hình thành ở Việt Nam, các tác giả đã phân tích ảnh. hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường đối với sự phân tầng xã hội và phân hóa giàu - nghèo ở các vùng dân tộc và miền núi phía Bắc của nước ta. Các tác giả cũng cho thấy một bộ phận dân cư do điều kiện thuận lợi đã giàu lên khá nhanh; trong khi đó có một số người, đặc biệt là một số dân tộc thiểu số thuộc vùng sâu, vùng xa hầu như bị tách biệt với tiến trình đổi mới của đất nước, chỉ rõ số hộ nghèo, phân tằng xã hội, phân hóa giàu — nghèo giữa các nhóm dân cư, giữa các vùng đang có xu hướng tăng lên, điều đó làm nảy sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp, có xu hướng đi ngược với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội đân chủ, công bằng, văn minh.
Từ góc độ xã hội học, tác giả Đỗ Thiên Kính còn có công trình “Phân hóa giàu — nghèo và tác động của yếu tố học vấn đến nâng cao mức sống cho. người dân Việt Nam. Công trình này đã tập trung làm sáng tỏ thực trạng phân hóa giàu — nghèo ở Việt Nam và chỉ ra vai trò của yếu tố học vấn trong việc nâng cao mức sống cho người dân Việt Nam , nhằm khắc phục phân hóa giàu — nghèo và thực hiện công bằng xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế của đất nước. Ngoài ra, để bản về sự phân hóa giàu — nghèo còn có các công trình nghiên cứu khoa học khác nhau; vấn đẻ giàu- nghèo không chỉ là vấn đề riêng.
của một quốc gia mà còn là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội mang tính phổ biến trên toàn cầu và mang tính thời sự cắp bách, sự phân hóa giàu — nghèo trong nền kinh tế thị trường ở nước ta với thực trạng và xu hướng biến động có liên quan đến sự phân công lao động và sự phân hóa giàu- nghèo còn có mặt liên quan tới bất bình đẳng xã hội và cũng có khả năng tác động xấu. đến sự phát triển của đắt nước. Trong khi đó, nền kinh tế thị trường ở nước ta. hiện nay có sự đổi mới cho nên sự phân hóa giàu - nghèo mang những sắc thái mới, nên một số nội dung của sự điều tiết giàu - nghèo phải được xem xét dưới góc độ triết học rất cần thiết để làm rõ hơn vấn đề mâu thuẫn giàu — nghèo trong xã hội trên quan điểm toàn diện, có tính hệ thống.
Đại hội lần thứ XI của Đảng ta xác định: “Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, tăng cường đồng thuận xã hội để thực hiện mục tiêu dan giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, và “tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xoá đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức xoá đói, giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông. thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm để xoá đói, giảm. nghèo bền vững; tạo điều kiện và khuyến khích người đã thoát nghèo vươn.
lên làm giảu và giúp đỡ người khác thoát nghèo”. Việc nghiên cứu tình trạng. phân hóa giàu — nghèo trong nền kinh tế thị trường dưới góc độ triết học góp phần toàn diện hơn trong điều kiện cùng với sự vận động của nẻn kinh tế bản thân sự phân hóa giàu — nghèo. cũng như nhận thức sự thay đổi đã rõ hơn, từ đó tìm ra các giải pháp phù hợp trong điều tiết sự phân hóa giàu— nghèo một cách có hiệu quả ở nước ta hiện nay.
CHUONG 1 LY LUAN CHUNG VE MAU THUAN VÀ. PHAN HOA GIAU NGHEO 1.1, VE MAU THUAN 1. Khái niệm về mâu thuẫn Khái niệm mâu thuẫn là để nói vẻ tính hai mặt của tắt cả các sự vật, hiện tượng: trong âm có dương, trong tốt có xấu, như vậy mọi sự vật đều vận động theo hướng hài hòa. Triết học phương Tây kết luận rằng mâu thuẫn là động lực của sự phát triển, bởi vì trong mỗi sự vật đều có ít nhất hai mặt, hai lập trường, hai thế lực đối kháng, và các thế lực đó sẽ tìm cách triệt tiêu nhau.
để chiếm lĩnh chủ thể, quá trình đó đẩy mâu thuẫn phát triển đến đỉnh điểm và khi mâu thuẫn phát triển đến đỉnh điểm thì chủ thê sẽ biến đôi cả về lượng và chất sang một hình thái mới. Còn triết học phương Đông thì cho rằng, các nhân tố âm dương trong một chủ thể luôn vận động và biến đổi luân hồi, âm thịnh thì dương suy, bi cực thái lai. Mâu thuẫn là phạm trù của phép biện chứng, biểu hiện nguồn gốc bên trong của mọi sự vận động, gốc rễ của sự sống, nguyên lý của sự phát triển. Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng.
Mâu thuẫn biện chứng tồn tại khách quan và phổ biến trong. tự nhiên, xã hội va tư duy. Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức. Mâu thuẫn biện chứng tồn tại trong cả tự nhiên lẫn trong xã hội và tư duy.
Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là sự phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức, của tư duy trên con đường. vươn tới chân lý khách quan, chân lý tuyệt đối về hiện thực. Cần phân biệt mâu thuẫn biện chứng được phản ánh vào trong tư duy, trong các khái niệm, lý luận với cái gọi là những mâu thuẫn logic biểu hiện sự mơ hồ tính chất không triệt để của tư tưởng. Những mâu thuẫn logic hình thức chỉ tồn tại trong tư duy, nó xuất hiện do sai lầm trong tư duy.
Mâu thuẫn logic hình thức là mâu thuẫn được tạo thành từ hai phán đoán phủ định nhau về cùng một quan hệ cùng một thời điểm; trong hai phán đoán đối lập đó, chỉ có một là chân lý.