Vận dụng Triết học Mác-Lênin vào xây dựng đội ngũ tri thức Việt Nam

Vận dụng triết học Mác Lênin về con người để xây dựng đội ngũ tri thức Việt Nam. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh mới.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Bài tập lớn

2024

45
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài

1.4. Phương pháp nghiên cứu đề tài

1.5. Kết cấu đề tài

PHẦN NỘI DUNG

1. CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI

1.1. Con người và bản chất con người

1.2. Hiện tượng tha hóa con người và vấn đề giải phóng con người

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Quan điểm về tri thức, đội ngũ trí thức và vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay

2.1.1. Quan điểm về trí thức, đội ngũ trí thức

2.1.2. Vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay

2.2. Thực trạng xây dựng và phát triển đội ngữ trí thức ở Việt Nam hiện nay

2.2.1. Những thành tựu trong xây dựng và phát triển đội ngữ trí thức ở Việt Nam hiện nay

2.2.2. Những hạn chế trong xây dựng và phát triển đội ngữ trí thức ở Việt Nam hiện nay

2.3. Một số giải pháp để xây dựng và phát triển đội ngữ trí thức ở Việt Nam hiện nay

2.4. Tiểu kết chương 2

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Triết Học Mác Lênin Nền Tảng Tư Tưởng Phát Triển Việt Nam

Từ thế kỷ VII-VI TCN, những quan niệm sơ khai về con người đã xuất hiện, nhưng mãi đến khi triết học Mác-Lênin ra đời, C. Mác mới đưa ra định nghĩa đúng đắn. Theo đó, con người không chỉ là thực thể sinh học mà còn là thực thể xã hội. Sự phát triển của loài người gắn liền với lịch sử. Lao động sản xuất tạo nên sự khác biệt giữa con người và động vật, phát triển tư duy, ý thức và ngôn ngữ. Con người không chỉ có quan hệ trong sản xuất mà còn là tổng hòa các mối quan hệ khác. Kết hợp ý thức, tư duy và các mối quan hệ xã hội, con người sáng tạo ra lịch sử, nhưng vẫn dựa vào quá khứ. Vì vậy, con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của lịch sử. Đội ngũ trí thức, với trình độ chuyên môn cao, đóng vai trò quan trọng trong nhiều lĩnh vực. Họ là lực lượng nòng cốt trong việc sáng tạo và ứng dụng tri thức mới, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đảng và Nhà nước đã nhận thức rõ tầm quan trọng của đội ngũ trí thức và đã ban hành nhiều chính sách nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức ngày càng vững mạnh. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là khoa học, công nghệ, giáo dục và kinh tế. Đội ngũ trí thức đã đóng góp đáng kể vào việc nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tăng cường hội nhập quốc tế. “Việt Nam từ một nước nghèo, lạc hậu đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, phát triển kinh tế ổn định và từng bước hiện đại hóa”. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc tiếp tục đầu tư và phát triển đội ngũ trí thức, nâng cao chất lượng giáo dục và nghiên cứu khoa học là yếu tố then chốt. Do đó, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “Vận dụng quan điểm của triết học Mác-Lênin về con người vào việc xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức ở Việt Nam hiện nay”.

1.1. Bản Chất Con Người Thống Nhất Sinh Học và Xã Hội

Theo triết học Mác-Lênin, con người là sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và xã hội. Con người có nguồn gốc từ thế giới tự nhiên, nhưng khác biệt với các loài động vật khác ở khả năng tư duy, sáng tạo và lao động sản xuất. Do đó, con người không chỉ tồn tại trong thế giới tự nhiên mà còn trong thế giới xã hội, tham gia vào các mối quan hệ xã hội và chịu sự tác động của các quy luật xã hội. Con người là một phần của giới tự nhiên, hòa hợp và thống nhất với giới tự nhiên, bởi lẽ “Giới tự nhiên. là thân thể vô cơ của con người. đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên”. Hoạt động của con người gắn liền với các mối quan hệ xã hội, không thể độc lập chỉ để phục vụ nhu cầu bản năng sinh học. Các hoạt động phải mang đến giá trị cả về vật chất lẫn văn hoá, không được vượt quá những khuôn phép mà xã hội đặt ra. Thông qua sản xuất, con người tạo ra của cải vật chất lẫn tinh thần, đồng thời hình thành tư duy. Trải qua trong quá trình lao động, con người phải sử dụng nhiều hơn các kỹ năng giao tiếp, đó là nền tảng giúp phát triển ngôn ngữ. Ngôn ngữ và tư duy của con người thể hiện đặc trưng tính xã hội của con người, từ đó củng cố cho phương diện con người là một thực thể xã hội.

1.2. Vai Trò Lịch Sử Chủ Thể Sáng Tạo và Sản Phẩm Xã Hội

Con người vừa là chủ thể của lịch sử, vừa là sản phẩm của lịch sử. Thông qua lao động và ý thức cá nhân, con người tạo ra các sự kiện lịch sử, thay đổi và làm biến động trạng thái tự nhiên của xã hội. Hoạt động lịch sử tiên quyết làm cho con người có sự cách biệt rõ rệt với các loài động vật khác đó chính là hoạt động chế tạo ra công cụ lao động và hoạt động sản xuất. Tuy nhiên, con người không thể sáng tác nên lịch sử theo ý muốn của mình mà tất cả phải dựa vào những yếu tố, điều kiện, nguyên nhân do quá khứ để lại. Đồng thời, con người là sản phẩm của lịch sử vì con người không chỉ hành động một cách tự do mà luôn bị tác động bởi các điều kiện vật chất, các mối quan hệ xã hội và yếu tố lịch sử tác động lên môi trường xung quanh con người. Con người chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá, giáo dục, truyền thống và những tư tưởng được thừa hưởng từ thế hệ trước, đồng thời lại tiếp tục truyền tải và điều chỉnh những ảnh hưởng đó qua thế hệ tiếp theo. Mối quan hệ giữa con người và lịch sử là một mối quan hệ biện chứng. Con người vừa tác động đến lịch sử, vừa bị lịch sử định hình.

II. Tha Hóa Con Người Thách Thức Từ Xã Hội Hiện Đại

Trong thế giới hiện đại, hiện tượng tha hóa con người trở thành một vấn đề nhức nhối. Từ áp lực xã hội, sự tha hóa về đạo đức đến những lối sống thiếu cân bằng, con người dường như đánh mất dần bản chất chân thật của mình. Để giải quyết vấn đề này, việc giải phóng con người không chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm tự do cá nhân mà còn là sự thức tỉnh về giá trị cốt lõi và sự kết nối bền vững với cộng đồng. Chỉ khi đó con người mới có thể thực sự tìm thấy hạnh phúc và ý nghĩa trong cuộc sống. Thực chất của hiện tượng tha hóa con người là lao động của con người bị tha hóa. Trong Từ điển Triết học tha hóa là khái niệm nói lên, “một là: quá trình chuyển hóa của các sản phẩm hoạt động của con người (cả hoạt động thực tiễn – những sản phẩm lao động, tiền và các quan hệ xã hội… tầm hoạt động lý luận), cũng như của những đặc tính và năng lực của con người thành một cái gì độc lập với con người và thống trị con người; hai là: sự chuyển hóa của những hiện tượng và quan hệ nào đó thành cái gì khác với bản thân chúng, sự bóp méo và xuyên tạc trong ý thức của con người những quan hệ sinh sống hiện thực của họ”.Mác, “thực chất của lao động bị tha hóa là quá trình lao động và sản phẩm của lao động từ chỗ để phục vụ con người, để phát triển con người đã bị biến thành lực lượng đối lập, nô dịch và thống trị con người”.

2.1. Tha Hóa Lao Động Mất Bản Chất Trong Sản Xuất

Người lao động chỉ hành động với tư cách là con người khi thực hiện các chức năng sinh học như ăn, ngủ, sinh con,….Còn khi lao động, tức là khi thực hiện chức năng cao quý của con người thì họ lại chỉ như con vật. Con người bị tha hóa là con người đánh bị đánh mất chính mình trong lao động, tức là trong hoạt động đặc trưng, bản chất của con người. Thực ra, tha hóa lao động là hiện tượng xuất hiện từ lâu trước khi có chủ nghĩa tư bản. Nó là hiện tượng gắn với những xã hội mà ở đó con người đã sản xuất ra những điều kiện sống chủ yếu cho xã hội, song lại được hưởng quá ít từ những điều kiện sống do chính mình sản xuất ra đó. Khi lao động bị tha hóa, con người trở nên què quặt, phiến diện, khuyết thiếu trên nhiều phương diện khác nhau. Sự tha hóa nói trên tất yếu làm cho con người phát triển không thể toàn diện, không thể đầy đủ, và không thể phát huy được sức mạnh bản chất con người.

2.2. Giải Phóng Con Người Xóa Bỏ Ách Bóc Lột Áp Bức

Một xã hội không có bóc lột là một xã hội mà mọi người đều có quyền lợi bình đẳng về tài nguyên và cơ hội phát triển. Điều này đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống kinh tế công bằng, nơi mà mọi người đều có cơ hội thụ hưởng thành quả lao động của mình, không bị chiếm đoạt bởi một số ít người nắm quyền lợi kinh tế. Ngoài ra còn phải khắc phục sự tha hóa của con người và của lao động của họ, biến lao động sáng tạo trở thành chức năng thực sự của con người là nội dung có ý nghĩa then chốt. Điều kiện và tiền đề để giải phóng triệt để con người là xóa bỏ giai cấp, xóa bỏ chế độ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sức sản xuất phát triển ở trình độ rất cao. Theo quan điểm của các nhà kinh điển của triết học Mác – Lênin, việc giải phóng những con người cụ thể là để đi đến giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và tiến tới giải phóng toàn thể nhân loại. Việc giải phóng con người được quan niệm một cách toàn diện, đầy đủ, ở tất cả các nội dung và phương diện của con người, cộng đồng, xã hội và nhân loại với tư cách là các chủ thể ở các cấp độ khác nhau.

2.3. Tự Do Phát Triển Điều Kiện Cho Sự Tiến Bộ Chung

Khi chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa bị thủ tiêu, lao động không còn bị tha hóa, con người được giải phóng, khi đó xã hội là sự liên hiệp của các cá nhân, con người bắt đầu được phát triển tự do. Con người là sự thống nhất giữa cá nhân và xã hội, cá nhân với giai cấp, dân tộc và nhân loại, bản chất của con người là tổng hòa các quan hệ xã hội. Do vậy, sự phát triển tự do của mỗi người tất yếu là điều kiện cho sự phát triển tự của mọi người. Dĩ nhiên, điều đó cũng có nghĩa là sự phát triển tự do của mọi người, sự phát triển của xã hội là tiền đề cho sự phát triển của mỗi cá nhân trong đó. Sự phát triển tự do của mỗi người chỉ có thể đạt được khi con người thoát khỏi sự tha hóa, thoát khỏi sự nô dịch do chế độ tư hữu các tư liệu sản xuất bị thủ tiêu triệt để, khi sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay không còn, khi con người không còn bị trói buộc bởi sự phân công lao động xã hội. Ngược lại, nếu sự phát triển của một số cá nhân bị hạn chế hoặc bóp nghẹt, không chỉ riêng họ mà toàn xã hội sẽ bị kìm hãm.

III. Đội Ngũ Trí Thức Việt Nam Quan Điểm và Vai Trò

Trong suốt tiến trình phát triển của nhân loại, trí thức luôn được đặt ở một vị trí đặc biệt và được xem là nền tảng của tiến bộ xã hội. Trí thức luôn có tầm ảnh hưởng lớn, trực tiếp dẫn dắt xu hướng phát triển của xã hội; là lực lượng nòng cốt, tiên phong trong tiếp nhận, truyền tải, lan tỏa, sáng tạo văn hóa, tri thức, đem tri thức phục vụ cho sự phát triển, tiến bộ, văn minh. Theo đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là cần tiếp tục tạo những điều kiện thuận lợi để tăng cường xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam ngang tầm nhiệm vụ trong bối cảnh mới. Dù ở phương Đông hay phương Tây, ở trong nước hay ngoài nước đều có những cách tiếp cận, lý giải, quan niệm về trí thức khác nhau. Mặc dù có rất nhiều quan niệm khái niệm hay định nghĩa về trí thức, nhưng tựu trung lại có thể xác định những thuộc tính chung được đề cập trong các quan niệm về trí thức, cụ thể là: trí thức là một tầng lớp đặc biệt trong xã hội, đặc thù bởi phương thức lao động trí óc phức tạp, có tư duy độc lập, sáng tạo, có trình độ học vấn và chuyên môn cao, là lực lượng chủ yếu truyền bá và áp dụng tri thức vào thực tiễn, góp phần thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của xã hội.

3.1. Khái Niệm Trí Thức Lao Động Trí Óc và Sáng Tạo

Theo quan niệm của triết học Mác – Lênin trí thức không phải là một giai cấp mà là một tầng lớp xã hội đặc biệt, chuyên lao động trí óc phức tạp, là những người có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn cao, đại diện tiêu biểu cho trí tuệ đương thời của xã hội. Bên cạnh đó, trí thức còn là những người có tư duy độc lập, có tính sáng tạo trong công việc; phổ biến và vận dụng tri thức để thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của xã hội. Ở Việt Nam, kế thừa quan điểm của triết học Mác - Lê-nin về trí thức, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ bản chất, đặc trưng của trí thức. Người chỉ rõ: “Trí thức là hiểu biết. Một người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức. công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”. Điều đó có nghĩa là, ngoài việc có học thức, người trí thức phải có năng lực thực hành và ứng dụng, vận dụng hiểu biết của mình để phục vụ trực tiếp cho xã hội. Một người có trình độ học vấn cao chỉ có thể trở thành trí thức khi người đó đem tri thức của mình lao động sáng tạo, áp dụng vào thực tế xã hội phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân.

3.2. Vai Trò Trí Thức Định Hướng và Phát Triển Xã Hội

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trở nên vô cùng quan trọng. Họ không chỉ là những người nắm giữ tri thức và kỹ năng chuyên môn mà còn là lực lượng tiên phong trong việc đổi mới tư duy, sáng tạo và phát triển bền vững đất nước. Đội ngũ trí thức hiện nay không chỉ góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục, khoa học công nghệ mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các chính sách xã hội, kinh tế và văn hóa. Đội ngũ trí thức Việt Nam đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển bền vững của xã hội. Họ không chỉ tham gia trực tiếp và gián tiếp vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất, mà còn giữ vai trò chủ yếu trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài.

3.3. Vai trò của đội ngũ trí thức đối với cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức rõ vị trí, vai trò của người trí thức đối với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Người cho rằng: “Lực lượng chủ chốt của cách mạng là công nhân và nông dân… Nhưng cách mạng cũng cần có lực lượng của trí thức”1. Luận điểm trên của Người đã khẳng định rõ vai trò quan trọng của trí thức trong sự nghiệp cách mạng, xây dựng đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Liên minh công nhân - nông dân - trí thức phải đề cao tinh thần đoàn kết, tạo thành một khối thống nhất, phát huy thế mạnh của từng chủ thể; từ đó, tạo thành sức mạnh tổng hợp để thực hiện nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phục vụ nhân dân.

IV. Đội Ngũ Trí Thức Việt Nam Thành Tựu và Hạn Chế

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam đã không ngừng chú trọng đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ tri thức. Đây là nòng cốt đóng góp quan trọng vào việc thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và phát triển bền vững. Chính phủ đã chú trọng đầu tư vào giáo dục và đào tạo, tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho việc nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Trong hơn mười năm qua, trí thức Việt Nam đã phát triển nhanh về số lượng, nâng cao về chất lượng và đã thực sự hình thành một đội ngũ trí thức mới. Những thành tựu đạt được trong thời gian qua đã phản ánh sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước trong việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế.

4.1. Số Lượng và Chất Lượng Tăng Trưởng Vượt Bậc

Về số lượng, đội ngũ trí thức có mặt ở mọi lĩnh vực đời sống, kinh tế - xã hội, như chính trị, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn học - nghệ thuật,…Số lượng trí thức ở Việt Nam đã tăng trưởng đáng kể trong những năm qua. Theo Niêm giám thống kê năm 2023, cả nước có tổng cộng 232 trường đại học và có khoảng hơn 1,9 triệu sinh viên theo học tại các trường đại học vào năm 2020. Về chất lượng, chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam cũng đã có sự cải thiện đáng kể. Theo Ngân hàng Thế giới, chỉ số vốn nhân lực (HCI) của Việt Nam đã tăng từ 0,66 lên 0,69 trong 10 năm 2010 - 2020. Việt Nam là một trong những nước ở khu vực Đông Á - Thái Bình Dương có điểm cao nhất về chỉ số vốn nhân lực. Việt Nam tính đến hết năm 2023 có 52,4 triệu lao động từ 15 tuổi trở lên, tăng 666,5 nghìn người so với năm trước.

4.2. Bất Cập và Thách Thức Điểm Nghẽn Cần Giải Quyết

Mặc dù Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức, nhưng thực tế cho thấy vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Những khó khăn này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng của đội ngũ trí thức mà còn gây trở ngại cho quá trình hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước. Nổi bật trong đó là sự thiếu hụt về số lượng và chất lượng của đội ngũ tri thức, cũng như sự bất cập trong cơ cấu phân bổ trí thức giữa các ngành nghề và khu vực. Việt Nam đang rất cần những nhà khoa học giỏi, những chuyên gia nghiên cứu khoa học đầu ngành. Thực tế cho thấy, mặc dù số lượng đội ngũ trí thức ở Việt Nam có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, có học hàm PGS, GS khá đông, song chúng ta đang đối mặt với sự thiếu hụt nghiêm trọng về số lượng trí thức trong nhiều lĩnh vực trọng yếu. Trong các lĩnh vực như công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI), và chíp bán dẫn, nhu cầu về nhân lực chất lượng cao đang ngày càng lớn.

4.3. Nguyên nhân và ảnh hưởng của những hạn chế của đội ngũ tri thức Việt Nam hiện nay.

Đội ngũ trí thức tập trung phần nhiều ở lĩnh vực kinh tế, hành chính, kinh doanh (khoảng 60%). Nếu như trước kia có nhiều đội ngũ tri thức ở Việt Nam được đào tạo bài bản, vừa có tâm vừa có tầm, nhiệt huyết và đam mê khoa học, nhiều trí thức trưởng thành, phát triển và tạo nên uy tín từ các ngành khoa học xã hội, nhân văn thì hiện nay đội ngũ trí thức có thể đảm nhận vai trò như những chuyên gia nghiên cứu khoa học hàng đầu ở nhiều ngành đang thiếu hụt… Ví dụ như trong lĩnh vực giáo dục, nhiều trường đại học và viện nghiên cứu đang gặp nhiều khó khăn trong việc tuyển dụng giảng viên và các nhà nghiên cứu có trình độ cao, đặc biệt là trong các ngành khoa học như triết học, lịch sử. Vấn đề cơ cấu đội ngũ trí thức theo vùng, miền cũng không đồng đều, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn.

V. Giải Pháp Phát Triển Khơi Dậy Tiềm Năng Trí Thức Việt

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đội ngũ trí thức đang đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia dân tộc. Tri thức vừa là một bộ phận của nguồn nhân lực, vừa là nguồn lực khoa học, kỹ thuật, trực tiếp tham gia vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước Sự chuyển mình mạnh mẽ của công nghệ và thông tin đòi hỏi một lực lượng lao động trí thức không chỉ có trình độ chuyên môn cao mà còn phải sáng tạo, nhạy bén với những xu hướng mới. Để phát huy tối đa tiềm năng của đội ngũ này, Việt Nam cần tạo ra một môi trường làm việc thuận lợi, thực hiện các chính sách đãi ngộ hợp lý và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng tri thức.

5.1. Môi Trường Sáng Tạo Điều Kiện Tiên Quyết

Một trong những yếu tố quyết định đến sự phát triển của đội ngũ trí thức là môi trường làm việc. Để trí thức có thể phát huy tối đa năng lực sáng tạo, cần xây dựng một môi trường làm việc chuyên nghiệp, hiện đại. Điều này không chỉ bao gồm việc cải thiện cơ sở hạ tầng nghiên cứu, như trang bị các thiết bị công nghệ cao, mà còn cần đảm bảo không gian làm việc thoải mái và an toàn. Tạo điều kiện và khuyến khích đội ngũ trí thức tham gia đóng góp ý kiến, tư vấn, phản biện, giám định xã hội đối với việc hoạch định chính sách, xây dựng và triển khai các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, công trình, dự án quan trọng thực hiện mục tiêu phát triển đất nước.

5.2. Trọng Dụng Nhân Tài Đãi Ngộ Xứng Đáng

Chính sách trọng dụng nhân tài là một yếu tố cực kỳ quan trọng để thu hút và giữ chân những trí thức ưu tú. Việt Nam cần xây dựng một hệ thống đãi ngộ hợp lý, bao gồm lương thưởng, phúc lợi và cơ hội thăng tiến. Nước ta cần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức, trọng dụng nhân tài. Tạo đột phá, chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về chất lượng đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài trong các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở nghiên cứu khoa học; xác định lĩnh vực, hướng nghiên cứu trọng điểm, ưu tiên gắn với yêu cầu đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.

5.3. Nâng Cao Chất Lượng Đào Tạo và Bồi dưỡng tri thức.

Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động, Việt Nam cần cải cách nội dung chương trình giáo dục. Các trường đại học và viện nghiên cứu cần tập trung vào việc phát triển kỹ năng thực hành, tư duy phản biện, khả năng làm việc nhóm và ứng dụng công nghệ thông tin trong học tập. Chương trình đào tạo cần được cập nhật thường xuyên để phản ánh những thay đổi trong khoa học, công nghệ và nhu cầu thực tiễn. Việc đưa các nội dung liên quan đến công nghệ thông tin, kỹ năng mềm, và tư duy sáng tạo vào chương trình giảng dạy sẽ giúp sinh viên sẵn sàng hơn khi gia nhập thị trường lao động.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 Kết luận lại, qua những phân tích trên cho thấy rằng con người là một thực thể phức tạp. Thứ nhất, con người với sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và xã hội. Khả năng tư duy, sáng tạo và sản xuất tư liệu sinh hoạt đã làm con người tách biệt khỏi các loài động vật khác, khẳng định vị trí của mình trong thế giới tự nhiên. Con người vừa là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, vừa là sản phẩm của những biến động lịch sử, bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa, giáo dục, và môi trường xã hội.

Quan hệ xã hội đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, tư duy và hành vi của con người. Hiểu rõ những yếu tố này giúp ta nhận thức sâu sắc hơn về bản chất con người và sự phát triển của họ trong xã hội hiện đại. Điều này không chỉ làm sáng tỏ vai trò của con người trong lịch sử và xã hội, mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một môi trường xã hội công bằng và nhân văn. Thứ hai, hiện tượng tha hóa con người là một vấn đề sâu sắc bắt nguồn từ việc lao động bị tha hóa, dẫn đến sự mất mát giá trị và bản chất thực sự của lao động.

Để khắc phục điều này, việc giải phóng xã hội khỏi ách bóc lột và áp bức là cần thiết, nhằm đảm bảo quyền lợi bình đẳng và cơ hội phát triển cho tất cả mọi người. Sự phát triển tự do của mỗi cá nhân là nền tảng quan trọng cho sự phát triển tự do của toàn xã 14 hội. Khi mỗi người được tự do phát triển, toàn xã hội sẽ tiến tới một cuộc sống hài hòa và thịnh vượng. Những tư tưởng trong triết học của chủ nghĩa Mác, vẫn tiếp tục là kim chỉ nam cho các hoạt động chính trị, xã hội và văn hóa, hướng tới một xã hội công bằng và nhân văn.

Hiểu biết được những vấn đề đó là cơ sở, là tiền đề cho sự phát triển của đội ngũ tri thức của Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung từ đó góp phần đưa thế giới ngày càng phát triển toàn diện và vững mạnh hơn nữa. 15 Chương 2: XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2. Quan điểm về tri thức, đội ngũ trí thức và vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay 2. Quan điểm về trí thức, đội ngũ trí thức Trong suốt tiến trình phát triển của nhân loại, trí thức luôn được đặt ở một vị trí đặc biệt và được xem là nền tảng của tiến bộ xã hội.

Trí thức luôn có tầm ảnh hưởng lớn, trực tiếp dẫn dắt xu hướng phát triển của xã hội; là lực lượng nòng cốt, tiên phong trong tiếp nhận, truyền tải, lan tỏa, sáng tạo văn hóa, tri thức, đem tri thức phục vụ cho sự phát triển, tiến bộ, văn minh. Theo đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là cần tiếp tục tạo những điều kiện thuận lợi để tăng cường xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam ngang tầm nhiệm vụ trong bối cảnh mới. Thứ nhất, về khái niệm trí thức, thuật ngữ “trí thức” đã xuất hiện từ khá sớm trong lịch sử, nhưng do xuất phát từ nhiều góc độ, phương pháp tiếp cận, nên hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức cùng tồn tại. Tuy nhiên mỗi định nghĩa chỉ thể hiện được một phương diện nhận thức nhất định, nhằm trừu tượng hóa, khái quát hóa nhóm đặc điểm, tính chất nào đó của đối tượng, không thể bao gồm hết nội hàm phức tạp của đối tượng.

Chẳng hạn một số được định nghĩa trong từ điển như: “Trí thức - tập đoàn xã hội gồm những người làm nghề lao động trí óc. Giới trí thức bao gồm kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận lớn viên chức” 1; “Trí thức: một nhóm xã hội, bao gồm những người chuyên làm nghề lao động trí óc phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó” 2. Các nhà kinh điển của triết học Mác - Lênin đã sớm nhận thấy trí thức là vấn đề lớn, phức tạp, cần được nghiên cứu sâu sắc. Ăng-ghen, trí thức ra đời là hệ quả của lịch sử phân công lao động xã hội.Ăng-ghen đã đưa ra sự nhìn nhận về người trí thức và giới trí thức rằng giới trí thức tham gia các hoạt động xã hội với tư cách là 1 Từ điển Triết học, Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va (bản dịch ra tiếng Việt của Nxb Tiến bộ và Nxb Sự thật),1986, tr.598 2 Từ điển Chủ nghĩa xã hội khoa học, 1986, tr.360 16 “thuộc tính chung của những sinh vật có trí tuệ”.

Trong các hình thức lao động của con người, có hai loại lao động là lao động sản xuất sáng tạo ra của cải vật chất và lao động sản xuất sáng tạo ra giá trị tinh thần.Mác, người trí thức là người sáng tạo tinh thần, sản xuất tinh thần. Đó là quá trình tư duy, nhận thức về thế giới tự nhiên, thế giới xã hội và về chính bản thân con người. Công việc sáng tạo tinh thần có ý nghĩa quan trọng với việc sản xuất vật chất. Nếu không có sự nhận thức đúng đắn các quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy thì làm sao nhân loại có thể tiến hóa phát triển ngày càng văn minh được.

Người trí thức còn là những người sáng tạo, phổ biến và vận dụng tri thức vào đời sống xã hội, thúc đẩy nhanh sự phát triển văn hóa và tiến bộ xã hội.Ăng-ghen đã phát hiện trong xã hội tư bản, người trí thức bị giai cấp tư sản bóc lột: “giai cấp tư sản tước hết hào quang thần thánh của tất cả những hoạt động xưa nay được trọng vọng tôn sùng. Bác sĩ, luật gia, tu sĩ, thi sĩ, bác học đều bị giai cấp tư sản biến thành những người làm thuê và trả lương của nó. Lênin, trong bối cảnh xây dựng chính quyền Xô viết, ông đánh giá rất cao vai trò của trí thức đối với quá trình chuyển đổi đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa: “Không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được”2. Với cách nhìn nhận đó, V.

Lênin quan niệm: “Trí thức bao hàm không những chỉ các nhà trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những nghề tự do nói chung, các đại biểu của những người lao động trí óc”3. Từ quan niệm trên của V.Lênin, chúng ta thấy ông không chỉ đã kế thừa các quan điểm của C.Ăngghen, mà còn phát triển quan niệm về trí thức của mình ở phạm vi rộng hơn, linh hoạt hơn, không gò bó vào một tiêu chí nào cụ thể. Như vậy, theo quan niệm của triết học Mác – Lênin trí thức không phải là một giai cấp mà là một tầng lớp xã hội đặc biệt, chuyên lao động trí óc phức tạp, là những người có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn cao, đại diện tiêu biểu cho trí tuệ đương thời của xã hội. Bên cạnh đó, trí thức còn là những người có tư duy độc lập, có tính sáng tạo trong công việc; phổ biến và vận dụng tri thức để thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của xã hội.

Ở Việt Nam, kế thừa quan điểm của triết học Mác - Lê-nin về trí thức, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ 1 C.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 1995, t. Lênin (1975), Toàn tập, Tập 36, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, Tr. Lênin (1978), Toàn tập, Tập 8, Nxb.

Tiến bộ, Mát-xcơ-va, Tr. 17 Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ bản chất, đặc trưng của trí thức. Người chỉ rõ: “Trí thức là hiểu biết. Một người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức.

công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”1.

Điều đó có nghĩa là, ngoài việc có học thức, người trí thức phải có năng lực thực hành và ứng dụng, vận dụng hiểu biết của mình để phục vụ trực tiếp cho xã hội. Một người có trình độ học vấn cao chỉ có thể trở thành trí thức khi người đó đem tri thức của mình lao động sáng tạo, áp dụng vào thực tế xã hội phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân. Tài phải đi đôi với đức. Do vậy, người thiếu đức độ, lương tri thì dù có học cao tột bậc cũng chỉ là người có bằng cấp, có học hàm, học vị, là người làm việc trí óc.

Họ chưa thật sự là trí thức đúng nghĩa. Nói cách khác, để trở thành người trí thức thì người ta cần phải có tài và có đức, đem tri thức phục vụ tốt cho nhân dân và đất nước. Kế thừa các quan điểm trước đó, đặc biệt là dựa trên quan điểm của triết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như căn cứ vào bối cảnh trong nước và quốc tế, tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Đảng ta lần đầu tiên đưa ra quan niệm có tính chất định nghĩa về trí thức: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội”2. Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, ở trong nước hay ngoài nước đều có những cách tiếp cận, lý giải, quan niệm về trí thức khác nhau.

Mặc dù có rất nhiều quan niệm khái niệm hay định nghĩa về trí thức, nhưng tựu trung lại có thể xác định những thuộc tính chung được đề cập trong các quan niệm về trí thức, cụ thể là: trí thức là một tầng lớp đặc biệt trong xã hội, đặc thù bởi phương thức lao động trí óc phức tạp, có tư duy độc lập, sáng tạo, có trình độ học vấn và chuyên môn cao, là lực lượng chủ yếu truyền bá và áp dụng tri thức vào thực tiễn, góp phần thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của xã hội. Thứ hai, quan điểm của triết học Mác – Lênin và Đảng ta về đội ngũ tri thức. Trong tư tưởng của V.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ