chương 1 Kết luận lại, qua những phân tích trên cho thấy rằng con người là một thực thể phức tạp. Thứ nhất, con người với sự thống nhất giữa yếu tố sinh học và xã hội. Khả năng tư duy, sáng tạo và sản xuất tư liệu sinh hoạt đã làm con người tách biệt khỏi các loài động vật khác, khẳng định vị trí của mình trong thế giới tự nhiên. Con người vừa là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, vừa là sản phẩm của những biến động lịch sử, bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa, giáo dục, và môi trường xã hội.
Quan hệ xã hội đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, tư duy và hành vi của con người. Hiểu rõ những yếu tố này giúp ta nhận thức sâu sắc hơn về bản chất con người và sự phát triển của họ trong xã hội hiện đại. Điều này không chỉ làm sáng tỏ vai trò của con người trong lịch sử và xã hội, mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một môi trường xã hội công bằng và nhân văn. Thứ hai, hiện tượng tha hóa con người là một vấn đề sâu sắc bắt nguồn từ việc lao động bị tha hóa, dẫn đến sự mất mát giá trị và bản chất thực sự của lao động.
Để khắc phục điều này, việc giải phóng xã hội khỏi ách bóc lột và áp bức là cần thiết, nhằm đảm bảo quyền lợi bình đẳng và cơ hội phát triển cho tất cả mọi người. Sự phát triển tự do của mỗi cá nhân là nền tảng quan trọng cho sự phát triển tự do của toàn xã 14 hội. Khi mỗi người được tự do phát triển, toàn xã hội sẽ tiến tới một cuộc sống hài hòa và thịnh vượng. Những tư tưởng trong triết học của chủ nghĩa Mác, vẫn tiếp tục là kim chỉ nam cho các hoạt động chính trị, xã hội và văn hóa, hướng tới một xã hội công bằng và nhân văn.
Hiểu biết được những vấn đề đó là cơ sở, là tiền đề cho sự phát triển của đội ngũ tri thức của Việt Nam nói riêng và trên toàn thế giới nói chung từ đó góp phần đưa thế giới ngày càng phát triển toàn diện và vững mạnh hơn nữa. 15 Chương 2: XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 2. Quan điểm về tri thức, đội ngũ trí thức và vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay 2. Quan điểm về trí thức, đội ngũ trí thức Trong suốt tiến trình phát triển của nhân loại, trí thức luôn được đặt ở một vị trí đặc biệt và được xem là nền tảng của tiến bộ xã hội.
Trí thức luôn có tầm ảnh hưởng lớn, trực tiếp dẫn dắt xu hướng phát triển của xã hội; là lực lượng nòng cốt, tiên phong trong tiếp nhận, truyền tải, lan tỏa, sáng tạo văn hóa, tri thức, đem tri thức phục vụ cho sự phát triển, tiến bộ, văn minh. Theo đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra hiện nay là cần tiếp tục tạo những điều kiện thuận lợi để tăng cường xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam ngang tầm nhiệm vụ trong bối cảnh mới. Thứ nhất, về khái niệm trí thức, thuật ngữ “trí thức” đã xuất hiện từ khá sớm trong lịch sử, nhưng do xuất phát từ nhiều góc độ, phương pháp tiếp cận, nên hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về trí thức cùng tồn tại. Tuy nhiên mỗi định nghĩa chỉ thể hiện được một phương diện nhận thức nhất định, nhằm trừu tượng hóa, khái quát hóa nhóm đặc điểm, tính chất nào đó của đối tượng, không thể bao gồm hết nội hàm phức tạp của đối tượng.
Chẳng hạn một số được định nghĩa trong từ điển như: “Trí thức - tập đoàn xã hội gồm những người làm nghề lao động trí óc. Giới trí thức bao gồm kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận lớn viên chức” 1; “Trí thức: một nhóm xã hội, bao gồm những người chuyên làm nghề lao động trí óc phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó” 2. Các nhà kinh điển của triết học Mác - Lênin đã sớm nhận thấy trí thức là vấn đề lớn, phức tạp, cần được nghiên cứu sâu sắc. Ăng-ghen, trí thức ra đời là hệ quả của lịch sử phân công lao động xã hội.Ăng-ghen đã đưa ra sự nhìn nhận về người trí thức và giới trí thức rằng giới trí thức tham gia các hoạt động xã hội với tư cách là 1 Từ điển Triết học, Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va (bản dịch ra tiếng Việt của Nxb Tiến bộ và Nxb Sự thật),1986, tr.598 2 Từ điển Chủ nghĩa xã hội khoa học, 1986, tr.360 16 “thuộc tính chung của những sinh vật có trí tuệ”.
Trong các hình thức lao động của con người, có hai loại lao động là lao động sản xuất sáng tạo ra của cải vật chất và lao động sản xuất sáng tạo ra giá trị tinh thần.Mác, người trí thức là người sáng tạo tinh thần, sản xuất tinh thần. Đó là quá trình tư duy, nhận thức về thế giới tự nhiên, thế giới xã hội và về chính bản thân con người. Công việc sáng tạo tinh thần có ý nghĩa quan trọng với việc sản xuất vật chất. Nếu không có sự nhận thức đúng đắn các quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy thì làm sao nhân loại có thể tiến hóa phát triển ngày càng văn minh được.
Người trí thức còn là những người sáng tạo, phổ biến và vận dụng tri thức vào đời sống xã hội, thúc đẩy nhanh sự phát triển văn hóa và tiến bộ xã hội.Ăng-ghen đã phát hiện trong xã hội tư bản, người trí thức bị giai cấp tư sản bóc lột: “giai cấp tư sản tước hết hào quang thần thánh của tất cả những hoạt động xưa nay được trọng vọng tôn sùng. Bác sĩ, luật gia, tu sĩ, thi sĩ, bác học đều bị giai cấp tư sản biến thành những người làm thuê và trả lương của nó. Lênin, trong bối cảnh xây dựng chính quyền Xô viết, ông đánh giá rất cao vai trò của trí thức đối với quá trình chuyển đổi đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa: “Không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được”2. Với cách nhìn nhận đó, V.
Lênin quan niệm: “Trí thức bao hàm không những chỉ các nhà trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những nghề tự do nói chung, các đại biểu của những người lao động trí óc”3. Từ quan niệm trên của V.Lênin, chúng ta thấy ông không chỉ đã kế thừa các quan điểm của C.Ăngghen, mà còn phát triển quan niệm về trí thức của mình ở phạm vi rộng hơn, linh hoạt hơn, không gò bó vào một tiêu chí nào cụ thể. Như vậy, theo quan niệm của triết học Mác – Lênin trí thức không phải là một giai cấp mà là một tầng lớp xã hội đặc biệt, chuyên lao động trí óc phức tạp, là những người có trình độ học vấn và trình độ chuyên môn cao, đại diện tiêu biểu cho trí tuệ đương thời của xã hội. Bên cạnh đó, trí thức còn là những người có tư duy độc lập, có tính sáng tạo trong công việc; phổ biến và vận dụng tri thức để thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của xã hội.
Ở Việt Nam, kế thừa quan điểm của triết học Mác - Lê-nin về trí thức, ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ 1 C.Ăng-ghen, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà nội, 1995, t. Lênin (1975), Toàn tập, Tập 36, Nxb. Tiến bộ, Mát-xcơ-va, Tr. Lênin (1978), Toàn tập, Tập 8, Nxb.
Tiến bộ, Mát-xcơ-va, Tr. 17 Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rõ bản chất, đặc trưng của trí thức. Người chỉ rõ: “Trí thức là hiểu biết. Một người học xong đại học, có thể gọi là có trí thức.
công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng vào thực tế”1.
Điều đó có nghĩa là, ngoài việc có học thức, người trí thức phải có năng lực thực hành và ứng dụng, vận dụng hiểu biết của mình để phục vụ trực tiếp cho xã hội. Một người có trình độ học vấn cao chỉ có thể trở thành trí thức khi người đó đem tri thức của mình lao động sáng tạo, áp dụng vào thực tế xã hội phục vụ xã hội, phục vụ nhân dân. Tài phải đi đôi với đức. Do vậy, người thiếu đức độ, lương tri thì dù có học cao tột bậc cũng chỉ là người có bằng cấp, có học hàm, học vị, là người làm việc trí óc.
Họ chưa thật sự là trí thức đúng nghĩa. Nói cách khác, để trở thành người trí thức thì người ta cần phải có tài và có đức, đem tri thức phục vụ tốt cho nhân dân và đất nước. Kế thừa các quan điểm trước đó, đặc biệt là dựa trên quan điểm của triết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như căn cứ vào bối cảnh trong nước và quốc tế, tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Đảng ta lần đầu tiên đưa ra quan niệm có tính chất định nghĩa về trí thức: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội”2. Như vậy, dù ở phương Đông hay phương Tây, ở trong nước hay ngoài nước đều có những cách tiếp cận, lý giải, quan niệm về trí thức khác nhau.
Mặc dù có rất nhiều quan niệm khái niệm hay định nghĩa về trí thức, nhưng tựu trung lại có thể xác định những thuộc tính chung được đề cập trong các quan niệm về trí thức, cụ thể là: trí thức là một tầng lớp đặc biệt trong xã hội, đặc thù bởi phương thức lao động trí óc phức tạp, có tư duy độc lập, sáng tạo, có trình độ học vấn và chuyên môn cao, là lực lượng chủ yếu truyền bá và áp dụng tri thức vào thực tiễn, góp phần thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của xã hội. Thứ hai, quan điểm của triết học Mác – Lênin và Đảng ta về đội ngũ tri thức. Trong tư tưởng của V.