CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu trên thế giới Bắt nhịp với sự phát triển không ngừng của công nghệ và mạng lưới Internet, người học ngày nay có thêm nhiều lựa chọn hơn cho quá trình lĩnh hội tri thức của mình. Người học hoàn toàn có thể tham gia học tập từ xa, học thông qua các bài giảng có sẵn trên mạng,… Các hình thức và PPDH hiện đại giúp cho người học chủ động hơn, tích cực hơn.
Nghiên cứu của Marlene Wagner “Effectiveness of Flipped Classroom Instruction in Secondary Education” (2020) đã khảo sát được tác động của phương pháp LHĐN có thực sự tác động tích cực đến thành tích học tập của học sinh hay không và trong điều kiện nào học sinh sẽ đạt được kết quả tốt nhất Các tác giả Paul Lam, Carmen K. Lau và Chi Him Chan trình bày trong báo cáo “Flipped Classroom assessment: A learning process approach” của mình về mục tiêu quan trọng của LHĐN là cải thiện hành vi và thái độ của học sinh, cần tập trung nhiều hơn vào việc đánh giá quá trình học tập phù hợp với mục tiêu đó. Một nghiên cứu khác, “The flipped classroom model for college algebra: Effects on student achivement” của Gerald Robert Overmyer đã tiến hành thực nghiệm dạy học môn Đại số theo cả phương pháp dạy học truyền thống và dạy học theo LHĐN, thu được kết quả rằng, không có sự khác biệt đáng kể về mặt thống kê điểm số của học sinh ở hai nhóm, tuy nhiên, với phần kiến thức được học bằng phương pháp LHĐN có điểm cao hơn một chút so với phương pháp học tập truyền thống. Trong nghiên cứu ‘Effective Teaching and Learning: Flipped Learning in the Classroom”, tác giả Mohammed Fahad Alsobaie đã nghiên cứu kĩ lưỡng về phương pháp dạy học theo LHĐN, cách vận dụng và kiểm tra hiệu quả của phương pháp này.
Đồng thời tác giả khẳng định sự thay đổi theo phương pháp này là hoàn toàn phù hợp với thực tế xã hội và nhu cầu của thời đại. 7 Có thể nói, trong vài thập kỉ vừa qua, sự phát triển của công nghệ đã làm cho mọi khía cạnh của cuộc sống nói chung và giáo dục nói riêng trở nên dễ dàng hơn, thuận lợi hơn. Và dạy học theo phương pháp LHĐN đã tận dụng tối ưu sự tiến bộ trong công nghệ ấy để thay đổi “bố cục” lớp học truyền thống, giúp cho học sinh chủ động và tích cực hơn trong học tập, từ đó mang lại hiệu quả tốt hơn. Tổng quan nghiên cứu tại Việt Nam Hiện nay, mô hình LHĐN đã được nhiều giáo viên biết đến và sử dụng, tuy nhiên chưa thật sự có nhiều bài nghiên cứu chính thống về mô hình này khi áp dụng vào thực tế giảng dạy tại Việt Nam.
Nghiên cứu “Áp dụng mô hình dạy học đảo ngược trong giảng dạy các học phần lí thuyết ở trường đại học” của Phạm Thị Huyền đã khẳng định được mô hình LHĐN giúp phát huy vai trò chủ động của sinh viên trong học tập, đồng thời giúp giảm bớt những hạn chế trong giảng dạy của giảng viên trong quá trình giảng dạy học phần lí thuyết vốn bị đánh giá là khô khan, khó hiểu ở trường đại học. Nghiên cứu của Lê Duy Cường về “Vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong giảng dạy học phần phương pháp dạy học toán theo hướng phát triển năng lực tự học của sinh viên ngành Giáo dục tiểu học” cũng cho thấy việc vận dụng mô hình LHĐN trong giảng dạy học phần Phương pháp dạy học Toán không chỉ tạo hứng thú, nâng cao kết quả học tập mà còn giúp sinh viên phát triển năng lực tự học của bản thân. Một nghiên cứu khác là “Áp dụng mô hình “Lớp học đảo ngược” trong giảng dạy các học phần lý luận chính trị tại Trường đại học Hà Nội” của hai tác giả Nguyễn Thị Như và Tạ Thị Hoa Ban đã đưa ra kết luận về việc dạy học theo mô hình LHĐN là một phương pháp hiện đại, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục tại Việt Nam hiện nay. Tác giả Đỗ Tùng và Hoàng Công Kiên cũng rút ra được kết luận tương tự như trên về hiệu quả của áp dụng mô hình LHĐN cho học sinh, được trình bày trong nghiên cứu “Áp dụng mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học trực tuyến tại Trường đại học Hùng Vương”.
8 Với hai tác giả Nguyễn Thị Phượng Liên và Lưu Thanh Tuấn đã vận dụng mô hình LHĐN vào dạy học và cũng cho được kết quả rằng việc tổ chức dạy học theo mô hình này đã thúc đẩy hoạt động học tập, góp phần phát triển năng lực tự học của học sinh. Kết quả này được nhóm tác giả trình bày trong nghiên cứu “Vận dụng mô hình “Lớp học đảo ngược” vào dạy học hóa học hữu cơ (hóa học 9) nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh”. Kết quả tương tự cũng được ghi nhận qua bài nghiên cứu “Tổ chức dạy học theo chủ đề “Liên kết hóa học” (hóa học 10) theo mô hình “Lớp học đảo ngược” nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh” của Nguyễn Hoàng Trang và Bùi Thị Thơm. Nghiên cứu “Xây dựng quy trình bài học theo mô hình “Lớp học đảo ngược” nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh tiểu học” của tác giả Phạm Thùy Dương đã nêu ra các hướng dẫn xây dựng quy trình dạy học theo mô hình LHĐN, thể hiện được tính khả thi của mô hình trong việc nâng cao năng lực tự học cho HS.
Một nghiên cứu khác của tác giả Kiến Thị Thúy Hoa là “Dạy học phần sinh học vi sinh vật - Sinh học 10 THPT theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh” đã phân tích rất rõ ràng về hiệu quả của mô hình LHĐN, từ đó đưa ra được đề xuất quy trình sử dụng mô hình LHĐN một cách có hiệu quả. Ngoài ra, các nghiên cứu trên cũng đã chỉ ra được những ưu điểm và hạn chế của mô hình dạy học này. Từ đó, tôi muốn khẳng định việc nghiên cứu và tìm hiểu về mô hình LHĐN và cách áp dụng vào thực tế là một việc làm vô cùng cần thiết, bởi nó đáp ứng được hai yếu tố quan trọng nhất trong giáo dục hiện tại: Phát huy được tính chủ động, tích cực của học sinh và phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục của xã hội. Trong bài nghiên cứu này, tôi muốn tìm hiểu kĩ hơn về việc vận dụng mô hình LHĐN trong dạy học môn Toán, chủ đề Dãy số, cấp số cộng, cấp số nhân cho học sinh THPT tại trường THCS&THPT Lương Thế Vinh - Hà Nội (cơ sở Tân Triều).
Năng lực tự học và dạy học phát triển năng lực tự học cho học sinh 1. Khái niệm năng lực và dạy học phát triển năng lực 1. Năng lực là gì? Trước khi tìm hiểu về việc làm thế nào để phát triển năng lực tự học cho học sinh thì ta cần có những khái niệm cơ bản về năng lực. Các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế đã tiếp cận khái niệm năng lực dưới nhiều góc độ khác nhau.
Cụ thể, theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), năng lực là khả năng một người có thể đáp ứng hiệu quả những yêu cầu phức hợp khi đặt trong một tình huống cụ thể. Đối với tác giả F. Weinert, ông cho rằng năng lực là kết hợp giữa khả năng và kĩ năng vốn có hoặc có được do rèn luyện, cùng với sự chủ động của học sinh trong việc giải quyết các vấn đề bất ngờ, đồng thời hành động một cách có trách nhiệm và có tư duy phản biện để tìm ra giải pháp tốt nhất. Một cách tiếp cận khác cho khái niệm “năng lực” đến từ Dennyse Tremblay, năng lực là khả năng hành động, đạt được thành công và phát triển bằng cách huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tổng hợp để ứng phó với những tình huống trong cuộc sống.
Trong nghiên cứu của Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Ẩn, nhóm tác giả nêu khái niệm: “Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng nhất định của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy”. Còn theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên, “năng lực” được định nghĩa như sau: 1. Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Mọi người bình thường đều có năng lực suy nghĩ.
Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao. Với tác giả Nguyễn Minh Phương: “Năng lực cần đạt của học sinh THPT là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có kết quả”. Tác giả Lương Việt Thái cùng nhóm cộng sự cho rằng: “Năng lực cần đạt 10 của học sinh phổ thông là tổ hợp nhiều khả năng và giá trị cơ bản được cá nhân thể hiện thông qua các hoạt động có kết quả”. Chương trình giáo dục tổng thể do Bộ Giáo dục ban hành cũng nêu rõ định nghĩa thế nào là năng lực.
Cụ thể như sau: “Năng lực: là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Như vậy, qua các cách hiểu trên, ta đều dẫn đến được một nhận xét rằng năng lực của con người nói chung và học sinh nói riêng vừa tồn tại ở dạng tiềm năng, vừa là khả năng được thể hiện thông qua quá trình xử lí, giải quyết những vấn đề trong cuộc sống. Những năng lực đặc biệt ở mỗi người đều phải qua rèn luyện mà có.
Và năng lực chỉ có thể được công nhận khi con người vận dụng nó vào thực tiễn, gặt hái được hiệu quả, chất lượng lao động cao. Bên cạnh đó, những người có năng lực sẽ được mọi người xung quanh kính trọng và tin tưởng hơn. Đối với HS, năng lực chính là khả năng vận dụng một cách hợp lí, linh hoạt các kiến thức, kĩ năng đã được học tập, rèn luyện để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, đồng thời vận dụng được chúng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn một cách hợp lí và có hiệu quả. Dạy học phát triển lực là như thế nào?