Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chương 2: Vận dụng mô hình Kirkpatrick đánh giá hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực tại công ty Cổ phần Thiết kế Công nghiệp Hóa chất. Chương 3: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực tại công ty Cổ phần Thiết kế Công nghiệp Hóa chất. vi CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP Trong chương này, tác giả đã hệ thống lại các kiến thức, khái niệm về Nhân lực và nguồn nhân lực, Đào tạo nguồn nhân lực, Hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực, Mục đích đánh giá hiệu quả đào tạo, Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực.
Bằng việc liệt kê, so sánh các mô hình đánh giá hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực phổ biến như Mô hình Galvin CIPP, Mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Elements Model), Mô hình 5 yếu tố của Jack Phillips, Mô hình Kirkpatrick, tác giả đưa ra nhận định: Trong các mô hình kể trên, mô hình Đánh giá hiệu quả đào của Kirkpatrick là một phương pháp cổ điển và sử dụng nhiều nhất do tính đơn giản, linh hoạt, toàn diện và hiệu quả cao trong việc đánh giá hiệu quả đào tạo cả về kỹ năng kỹ thuật và các kỹ năng khác như giao tiếp, trình bày, giải quyết vấn đề… Mặc dù nổi tiếng và được sử dụng rộng rãi, chúng ta vẫn cần cân nhắc khi sử dụng mô hình này: - Tốn nhiều thời gian và chi phí để sử dụng ở cấp độ 3 hoặc 4 của mô hình, vì vậy nó không thực tế cho tất cả các tổ chức và các tình huống. Điều này đặc biệt đúng đối với các tổ chức không có chương trình đào tạo chuyên dụng hoặc có bộ phận nhân sự riêng. - Cần nguồn lực chuyên sâu để thu thập dữ liệu với mục đích duy nhất là đánh giá đào tạo ở các cấp độ 3 và cấp 4. – Mô hình này cũng giả định rằng tầm quan trọng của mỗi cấp độ lớn dần, và tất cả các cấp có liên quan tới nhau.
Ví dụ, cấp độ phản ứng là ít quan trọng hơn so với cấp độ kết quả. Điều này đôi khi không chính xác vì hành vi và kết quả thay đổi tùy thuộc vào các yếu tố khác, ngoài đào tạo. Mô hình 4 cấp độ của Kirkpatrick cho thấy sự cố gắng để đánh giá hiệu quả đào tạo một cách khoa học, tuy nhiên, khi rất nhiều các yếu tố tác động luôn biến đổi trong các tổ chức, thì các phân tích hiệu quả ở 4 cấp độ có thể trở nên phức tạp hơn. vii Ngoài ra, tác giả đã xem xét kinh nghiệm đánh giá hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần LICOGI 166 để tiến hành việc nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Thiết kế Công nghiệp Hóa chất được tốt hơn.
CHƢƠNG 2: VẬN DỤNG MÔ HÌNH KIRKPATRICK ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT KẾ CÔNG NGHIỆP HÓA CHẤT Trong chương này, tác giả tổng quan về công ty Cổ phần Thiết kế Công nghiệp Hóa chất như Quá trình hình thành và phát triển của công ty, Ngành nghề kinh doanh và tỷ trọng sản phẩm, Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý công ty, Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty giai đoạn 2014-2016, Các nhân tố tác động đến hoạt động đào tạo nguồn nhân lực tại công ty Cổ phần Thiết kế Công nghiệp Hóa chất, Đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty, Đặc điểm nguồn nhân lực của công ty, Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực tại công ty như Quy trình đào tạo ,Các phương pháp đào và Nội dung các chương trình đào tạo nguồn nhân lực tại công ty. Về việc vận dụng mô hình Kirkpatrick đánh giá hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực của công ty Cổ phần Thiết kế Công nghiệp Hóa chất, tác giả tiến hành nghiên cứu định tính bằng cách sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với cán bộ quản lý của công ty Thiết kế Công nghiệp hóa chất nhằm trao đổi về đề tài thực hiện, hoàn thiện các câu hỏi của hai bảng khảo sát nghiên cứu thông qua việc tìm hiểu sâu về ý kiến, kiến thức và kinh nghiệm của họ trong hoạt động đào tạo nguồn nhân lực. Và đồng thời tiến hành nghiên cứu định lượng: Đối tượng khảo sát là người lao động, cán bộ công nhân viên đã tham gia các khóa đào tạo tại Trụ sở chính Công ty Cổ phần Thiết kế Công nghiệp Hóa chất (Khảo sát 170 trên tổng số 285 người lao động tại Trụ sở chính công ty - Số liệu tính đến 31/12/2016). Trong phần khảo sát, tác giả tập trung khảo sát hai nhóm đối tượng chính bao gồm: Nhân viên và cán bộ quản lý của công ty.
Kết quả đánh giá cho thấy: Cấp độ 1 – Phản ứng viii Cấp độ phản ứng của học viên là một trong những nội dung quan trọng để đánh hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực tại Công ty. Cụ thể, cấp độ 1 đo lường những cảm nhận của học viên sau chương trình đào tạo như thích thú với chủ đề học tập hay không, họ có muốn muốn lưu giữ các tài liệu, bài thuyết trình hay không hoặc cảm thấy những gì thu được từ chương trình đào tạo là kinh nghiệm quý báu, cảm thấy người hướng dẫn đáng tin cậy cũng như ấn tượng với địa điểm tổ chức. Trong quá trình đào tạo, Công ty Cổ phần Thiết kế Công nghiệp Hóa chất có nhận ý kiến phản hồi trực tiếp trên lớp bằng cách yêu cầu học viên nêu suy nghĩ về trải nghiệm của họ.Có rất nhiều nhân tố tác động đến sự hài lòng về lớp học, khảo sát bảng hỏi cho thấy kết quả đánh giá về cấp độ phản ứng của cán bộ và nhân viên tại Công ty thông qua các nhân tố đó. Sự hài lòng về công tác đào tạo của doanh nghiệp, chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi yếu tố về cơ sở vật chất, với hệ số 0.458, thứ hai là yếu tố về sự quan tâm của lãnh đạo, với hệ số 0.434, yếu tố thứ ba là nội dung chương trình với hệ số 0.386, và cuối cùng là yếu tố về giảng viên, với hệ số 0.
Chỉ tiêu đánh giá về những gì thu được từ việc học ở lớp do công ty tổ chức vẫn chưa được đánh giá cao, số lượng người lựa chọn phương án này chỉ là 19 người, tương ứng với 14%. Điều này cho thấy các cán bộ và nhân viên vẫn chưa thực sự đánh giá cao về những gì thu được từ các lớp học do công ty tổ chức. Đa số đối tượng được phỏng vấn lựa chọn phương án những kinh nghiệm quý báu thu được là từ việc được kèm cặp trong công việc và khả năng tự học, tỷ lệ cho hai phương án lựa chọn này lần lượt là 33% và 29%. Các phương án lựa chọn từ việc đào tạo và tự học là 18%.
Như vậy có thể nói, lớp học do công ty tổ chức vẫn chưa được đánh giá cao về tính hiệu quả. Do đó, trong thời gian tới công ty cần xem xét và tìm hiểu nguyên nhân để nâng cao hiệu quả về lớp học. Cấp độ 2- Học tập Trong phần này, tác giả tập trung và đánh giá về các chỉ tiêu đo lường khác nhau về sự hiểu biết của đội ngũ nhân viên tại Công ty trong trước và sau đào tạo, đo lường xem học viên đã thu nạp được bao nhiêu kiến thức sau khi được đào tạo. Thay đổi của người lao động về kiến thức, kỹ năng, thái độ của họ trước và sau đào ix tạo như thế nào.
Xác định được những gì học viên đã học tập, những gì họ đã không cải thiện được và cần đào tạo thêm trong tương lai. Bảng kết quả cho thấy trước đào tạo và sau đào tạo cũng có sự thay đổi tương đối về: có hiểu biết và hiểu biết sau sắc về vấn đề. Nếu như trước đào tạo, chỉ tiêu có hiểu biết về vấn đề là 16,1% thì sau đào tạo chỉ tiêu có hiểu biết đã có sự thay đổi đáng kể, tỷ lệ này tăng lên đến 39,2%. Tỷ lệ nhân viên hiểu biết sâu sắc về vấn đề trước đào tạo là 5,8% và sau đào tạo đã tăng lên đến 10,2%.
Tỷ lệ hiểu biết rất ít, biết nhưng không sâu đã có xu hướng giảm. Như vậy kết quả trên đã chứng tỏ phần nào công tác Đào tạo tại Công ty đã mang lại hiệu quả về sư hiểu biết chung của nhân viên về Công ty. Cấp độ 3- Hành động Mục đích của công tác đào tạo cho đội ngũ cán bộ và nhân viên tại bất kỳ công ty nào là cải thiện và nâng cao chất lượng công việc. Vì vậy, cấp độ hành động là một trong những nội dung quan trọng cơ bản để đánh giá hiệu quả của công tác đào tạo.
Để đánh giá về cấp độ hành động, tác giả đánh giá thông qua các nội dung: kết quả thực hiện công việc sau các khóa đào tạo của Công ty, đánh giá về kết quả thực hiện công việc của nhân viên cấp dưới; kết quả thực hiện công việc, năng suất của nhân viên cấp dưới. Bảng số liệu trên cho thấy đánh giá của lãnh đạo về kết quả học tập của nhân viên cấp dưới. Các phương án lựa chọn là tốt chiếm 44,4%, tỷ lệ phương án lựa chọn bình thường ở vị trí thứ hai tương ứng với 38,9%. Như vậy, hầu hết các phương án lựa chọn tập trung vào bình thường và tốt.
Có thể nói, kết quả học tập của nhân viên được đánh giá khá cao. Căn cứ vào bảng số liệu trên cho thấy kết quả thực hiện công việc/ năng suất của nhân viên cấp dưới vẫn chưa được cán bộ quản lý đánh giá cao. Tỷ lệ lãnh đạo lựa chọn phương án không thay đổi nhiều chiếm đến 55,6%. Các phương án lựa cọn tốt hơn chỉ chiếm 33,3%.
Với các kết quả trên có thể thấy hiệu quả đào tạo tại công ty vẫn chưa góp phần cải thiện được công việc và năng suất công việc của nhân viên, mặc dù kết quả học tập của nhân viên được đánh giá là tốt. Có thể là do đào tạo chưa bám sát với thực trạng tại công ty, vẫn mang nặng tính lý thuyết.