Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn. Chương 2: Xây dựng một số biện pháp khai thác họa tiết trang trí trên trang phục một số dân tộc vào sáng tạo Mĩ thuật lớp 3. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 6 B. PHẦN NỘI DUNG Chương1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Lịch sử của vấn đề nghiên cứu Tác giả Ngô Đức Thịnh viết cuốn Trang phục cổ truyền các dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc in năm 2000. Tác giả nghiên cứu quá trình tạo ra trang phục từ các chất liệu khác nhau của các dân tộc Dao Quần Chẹt, Dao Quần Trắng, Dao Áo Dài, Dao Tiền, Dao Đỏ… Trong trang phục Dao Đỏ, ông miêu tả khá chi tiết trang phục của người phụ nữ, từ áo dài cho đến cách quấn tóc. Năm 2011, tác giả Nguyễn Khắc Tụng và Nguyễn Anh Cường viết cuốn Trang phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn bản. Cuốn sách đã đề cập sơ lược về người Dao ở Việt Nam, nhóm tác giả đã đề cập đến trang phục của nhóm Dao Đỏ và làm rõ những yếu tố đặc trưng cũng như mối quan hệ giữa các nhóm Dao thông qua nghiên cứu bộ trang phục.
Năm 2014, tác giả Ngô Đức Thịnh cũng biên soạn cuốn Trang phục truyền thống các dân tộc Việt Nam, trong đó cũng đề cập đến những dáng nét chung và sắc thái riêng của các nhóm H’Mông. Năm 2015, tác giả Nguyễn Thị Minh Ngọc có hai bài viết: “Giá trị văn hóa đặc trưng của hoa văn trên đồ vải của người H’mông ở Lào Cai” đăng trên Tạp chí Giáo dục Nghệ thuật và bài “Giá trị nghệ thuật của hoa văn trên đồ vải của người H’mông ở Lào Cai” đăng trên Tạp chí Dân tộc và Thời đại. Cả hai bài này đề cập đến giá trị văn hóa và tạo hình của họa tiết hoa văn trên vải của người H’Mông ở Lào Cai. Đây là những bài nghiên cứu giúp em có cái nhìn tổng thể về giá trị của hoa văn trên vải của đồng bào người H’Mông, cũng như góp phần giúp em làm rõ hơn những đặc trưng của hoa văn và sự vận dụng chúng vào trong sáng tạo Mĩ thuật bậc Tiểu học.
Liên quan đến lí luận dạy học 7 Năm 2008, tác giả Nguyễn Quốc Toản chủ biên cuốn Giáo trình phương pháp dạy - học Mĩ thuật. Ở chương 2, 3, nhóm tác giả đã trình bày khá cụ thể về PP dạy học và đặc điểm của các phân môn trong môn Mĩ thuật, trong đó có phân môn vẽ trang trí. Ở phần thực hành, nhóm tác giả cũng hướng dẫn GV cách thiết kế bài dạy, chuẩn bị ĐDDH và đánh giá kết quả học tập. Đây là những phần nội dung rất cần thiết giúp chúng em trong việc nghiên cứu của mình.
Cũng trong năm 2008, tác giả Ngô Bá Công viết cuốn Giáo trình Mĩ thuật cơ bản. Toàn bộ chương 3 là nội dung vẽ trang trí, trong đó mục 3 viết về hoa văn dân tộc. Những kiến thức trong nội dung được đề cập rất cần thiết và định hướng chúng em nhiều trong nghiên cứu của mình. Có thể thấy rằng, những cuốn sách này là tài liệu tham khảo rất cần thiết, là cơ sở giúp em có cách tiếp cận đúng hơn với đối tượng nghiên cứu của đề tài.
Tuy nhiên, do cách tiếp cận và chủ đích nghiên cứu khác nhau nên hầu như các tài liệu trên chưa đề cập đến đối tượng nghiên cứu của đề tài là vận dụng hoa văn trang trí trên trang phục dân tộc vào sáng tạo Mĩ thuật ở bậc Tiểu học. Do đó, đề tài này tiếp nối những nghiên cứu trước đây trong việc đưa những giá trị tạo hình trong nền văn hóa truyền thống vào trong giáo dục mĩ thuật phổ thông, giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về những giá trị tốt đẹp của đồng bào dân tộc, cũng như việc khai thác chất liệu truyền thống cũng góp phần tạo nên sức hấp dẫn của việc tổ chức dạy - học phân môn này. Một số khái niệm được sử dụng trong đề tài 1. Trang phục Khái niệm: “Trang phục” là đồ che phủ hoặc quần áo và các phụ trang cho thân thể con người.
Thuật ngữ bao hàm các loại đồ mặc bên ngoài như áo sơ mi, áo choàng, giày dép, mũ và găng tay; kiểu tóc, râu, tóc giả; mỹ phẩm, đồ trang sức và các loại hình khác dùng để trang điểm cơ thể. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, khái niệm “trang phục” được hiểu là: 8 “các loại đồ mặc (áo, quần,.), đồ đi (giày, dép, guốc,.), ngoài ra còn bao hàm các thứ trang phục phụ (khăn quàng, thắt lưng, găng tay,. Với cách tiếp cận này, trang phục dân tộc được hiểu là trang phục truyền thống của từng dân tộc với đặc điểm riêng, ít nhiều có sự khác biệt với trang phục của dân tộc khác. Trong sự phát triển của tộc người, trang phục dân tộc có thể có những biến đổi phù hợp với hoàn cảnh sống, trình độ thẩm mĩ, điều kiện phát triển nhưng vẫn giữ được cốt cách cơ bản đã có hay có thể xem trang phục dân tộc là một trong những đặc điểm thể hiện bản sắc của văn hóa dân tộc.
Khái niệm về nghệ thuật trang trí Trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt, khái niệm “trang trí” là: “sắp xếp, bố trí, tạo nên sự cân đối, hài hòa, đẹp mắt”. Trong đời sống, trang trí được hiểu là nghệ thuật sắp xếp bố trí hình mảng, đường nét, màu sắc, khối theo chủ đích của người nghệ sĩ nhằm tạo nên một vật phẩm đẹp phục vụ cho nhu cầu đời sống tinh thần, góp phần tăng thêm tính hấp dẫn cho sản phẩm. Như vậy, có thể trang trí gồm 2 phần: một là phần thiết kế tạo dáng cho một vật phẩm không chỉ mang tính năng sử dụng đơn thuần mà còn thuận mắt, có tính hài hòa. Hai là, dùng những kĩ thuật, chất liệu khác để làm vật phẩm thêm phần hấp dẫn, thu hút người tiêu dùng và sử dụng.
Trang trí là một “Hình thái nghệ thuật đặc biệt” của con người, là một phạm trù thẩm mĩ phục vụ cuộc sống con người, là nghệ thuật làm ra “cái đẹp” để thỏa mãn nhu cầu trước hết là thông tin, giao tiếp với những kí hiệu gắn liền với những tiến bộ và sự phát triển tất yếu của đời sống vật chất và tinh thần của con người. Trang trí là nghệ thuật sắp xếp bố trí hình mảng, đường nét, màu sắc, khối lượng. để tạo nên một vật phẩm đẹp và tiện nghi phục vụ cho nhu cầu đời sống tinh thần, thuận tiện cho lao động sản xuất, vui chơi, giải trí của con người hàng ngày. Trong cuộc sống của chúng ta, mọi sự vật đều phải được trang trí để mang đến những giá 9 trị vật chất và tinh thần phục vụ đời sống con người.
Vào các dịp lễ hội như: Tết Nguyên đán, Lễ Trung Thu. người Việt thường trang trí cờ hoa rực rỡ, đèn sáng lấp lánh hai bên đường đi. Các băng rôn với kiểu chữ đơn giản nổi bật trên nền đỏ cùng tranh minh họa cũng góp phần làm rực rỡ phố phường. Hay mỗi cửa hàng đều được trang trí với phong cách đa dạng, phù hợp nhu cầu của mọi người.
Nhờ có trang trí mà cuộc sống của con người thêm màu sắc, giúp tinh thần chúng ta thoải mái sau những giờ lao động căng thẳng, Ta có thể hiểu, trang trí (nghệ thuật, đường nét, hình dạng, màu sắc v.) là có tính điểm xuyết hoặc mang lại sự trù phú, nhưng quan trọng hơn trong nghệ thuật, nó nhấn mạnh đến tính hai chiều của một tác phẩm nghệ thuật hoặc bất kì yếu tố nào của tác phẩm. Nghệ thuật trang trí nhấn mạnh đến sự phẳng dẹt chủ yếu của bề mặt. Trang trí là nhu cầu của trí tuệ, nó phản ánh sự phát triển về mặt văn hóa của mỗi người, mỗi xã hội, mỗi thời đại từ xưa đến nay. Từ xa xưa, trang trí luôn luôn gắn bó với đời sống của con người, xung quanh chúng ta bất kì một đồ vật nào cũng được trang trí từ những đồ vật có kích thước nhỏ cho đến các công trình kiến trúc như: nhà hát, bảo tàng.thì hình dáng, màu sắc càng muôn vẻ và tinh tế.
Những kết quả đó nói nên sự sáng tạo về trang trí vô cùng phong phú và to lớn của con người. Mỗi dân tộc, mỗi đất nước đều có những nét độc đáo về thiên nhiên, về cỏ cây hoa lá, về nếp sống, về phong tục tập quán. Những nét độc đáo ấy đã in sâu vào tiềm thức của con người các dân tộc. Do đó, không ở đâu mà tính dân tộc, truyền thống nghệ thuật dân tộc thể hiện rõ nét như trong nghệ thuật trang trí.
Tại các di chỉ khảo cổ được biết đến, người ta tìm thấy các hình khắc trên hang, vách đá mô tả cảnh săn bắt của người vượn cổ. Cùng với sự phát triển chung, trong lĩnh vực nghệ thuật trang trí của lịch sử loài người, lịch sử phát triển của nghệ thuật trang trí nước ta cũng có những thành tựu quan trọng đánh dấu qua những giai đoạn của nền văn hóa nghệ thuật Việt Nam. Từ nghệ thuật của người Việt cổ 10 được phát triển qua các đồ dùng, dụng cụ lao động bằng đá, bằng đất nung, bằng xương, đến các di chỉ Phùng Nguyên, Đồng Dậu, Văn Điền, Đào Thịnh.với các loại hoa văn trang trí hình vòng tròn, hình tam giác, hình trâm, hình mặt trời, hình chim hạc, hoa văn tả thực được trang trí trên các vật dụng đồ dùng thời kì Lạc Việt mà tiêu biểu hơn cả là trống đồng Ngọc Lũ, thạp đồng Đào Thịnh. Cho đến nghệ thuật của các thời đại “vàng son” như: Lý, Trần đã sử dụng hình hoa cúc nhiều cánh, hoa sen, rồng, phượng.
để trang trí đã chứng tỏ Việt Nam có một nền nghệ thuật trang trí phát triển đậm đà bản sắc dân tộc mà chúng ta cần giữ gìn, tiếp thu và phát huy. Nghệ thuật trang trí cũng như các loại hình nghệ thuật khác đều tác động trực tiếp đến tâm sinh lý của con người, mỗi một sản phẩm trang trí nhằm đáp ứng hai yêu cầu đó là tính thực dụng và tính thẩm mĩ. Vì vậy, nghệ thuật trang trí thường có những tác động trực tiếp đến tâm lí, tình cảm của con người. Xã hội ngày càng phát triển thì các lĩnh vực hoạt động trong cuộc sống của con người cũng phát triển theo một cách phong phú đa dạng.
Đời sống tinh thần vật chất, tâm hồn, tình cảm con người ngày càng phong phú và trở thành một lực lượng thực tế ảnh hưởng sâu sắc đến chiều hướng phát triển của xã hội.