CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VẬN DỤNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN SỐ 17 - THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. SỰ CẦN THIẾT CỦA CHUẨN MỰC KẾ TOÁN SỐ 17 - THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP Trước những năm 1986, nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế tập trung bao cấp, các thành phần kinh tế chỉ có quốc doanh, tập thể và cá thể mà thành phần chủ đạo là thành phần kinh tế quốc doanh và không có các hoạt động thương mại buôn bán tự do trên thị trường. Do đặc điểm này, hệ thống kế toán chủ yếu theo khuôn mẫu của các nước XHCN, hệ thống tài khoản xây dựng căn cứ vào quá trình tái sản xuất, đảm bảo tính cân đối giữa vốn và nguồn vốn, giữa chi phí và thu nhập và sử dụng chủ yếu cho các DN quốc doanh. Trong giai đoạn này tất cả hàng hóa sản xuất ra được nộp cho Nhà nước và được phân phối lại nên các DN không phải nộp thuế TNDN.
Vì vậy, Việt Nam không có một chuẩn mực kế toán riêng biệt cho thuế TNDN. Sau năm 1986, cùng với sự đổi mới nền kinh tế Việt Nam dần chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng với tiến trình đó vai trò của thuế ngày một tăng. Thuế trở thành nguồn thu chủ yếu để Chính phủ cân đối thu - chi nền tài chính quốc gia. Để thích ứng với nền kinh tế thị trường với nhiều thay đổi này, hệ thống kế toán mới ra đời.
Hệ thống này được xây dựng chủ trọng đế sự cân đối của tài sản và nguồn hình thành tài sản, được áp dụng trên mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế. Văn bản có tính chất quyết định việc thay đổi này là Quyết định số 1141/TCĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 về việc ban hành chế độ kế toán DN. Luan van 7 Bên cạnh những cải cách, hệ thống kế toán của Việt Nam vẫn còn một số nhược điểm, bất cập. Cụ thể, trong công tác hạch toán kế toán thường xuyên phát sinh các chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế nhưng không có một văn bản nào hướng dẫn xử lý các khoản chênh lệch này, nhất là các khoản chênh lệch có tính chất tạm thời.
Nếu DN hạch toán tất cả các chi phí (hợp lệ và không hợp lệ) vào thu nhập chịu thuế có thể làm cho số liệu kế toán của DN không khớp đúng với số liệu của cơ quan thuế dẫn đến DN phải điều chỉnh lại sổ sách kế toán sau mỗi lần kiểm tra quyết toán của cơ quan thuế. Điều này rất phức tạp và khó khăn. Do vậy, để tránh rắc rối các DN thường cố gắng hoàn thiện BCTC theo quy định của cơ quan thuế, có nghĩa DN xây dựng chính sách kế toán căn cứ vào Luật thuế, vô tình cơ quan Nhà nước lại can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, BCTC mất đi vai trò vốn có của nó là phục vụ sản xuất kinh doanh, giúp đưa ra những quyết định quản lý DN, mục đích chính bây giờ là phục vụ công tác báo cáo thuế. Từ những yêu cầu cấp thiết đó Bộ Tài Chính đã ban hành chuẩn mực kế toán số 17 - Thuế TNDN theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15/02/2005 và thông tư số 20/2006/TT-BTC ngày 20/3/2006 hướng dẫn chi tiết các vấn đề như cơ sở thuế TNDN, thuế TNDN hiện hành, thuế TNDN hoãn lại,… Chuẩn mực này là cơ sở để các DN hiểu và ứng xử phù hợp nhất đối với các chênh lệch phát sinh giữa số liệu ghi nhận theo chính sách kế toán do DN lựa chọn và số liệu theo quy định của các chính sách thuế hiện hành.
PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH CỦA CHUẨN MỰC KẾ TOÁN SỐ 17 - THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP [1] Chuẩn mực kế toán số 17 - Thuế TNDN quy định và hướng dẫn các nguyên tắc, phương pháp kế toán thuế TNDN. Kế toán thuế TNDN là kế toán Luan van 8 những nghiệp vụ do ảnh hưởng của thuế TNDN trong năm hiện hành và trong tương lai của: a) Việc thu hồi hoặc thanh toán trong tương lai giá trị ghi sổ của các khoản mục tài sản hoặc nợ phải trả đã được ghi nhận trong Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp; b) Các giao dịch và sự kiện khác trong năm hiện tại đã được ghi nhận trong báo cáo kết quả kinh doanh Chuẩn mực này yêu cầu doanh nghiệp phải kế toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh do ảnh hưởng về thuế TNDN của các giao dịch và các sự kiện theo cùng phương pháp hạch toán cho chính các giao dịch và các sự kiện đó. Nếu các giao dịch và các sự kiện được ghi nhận trong BCKQHĐKD thì tất cả các nghiệp vụ phát sinh do ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp có liên quan cũng được ghi nhận vào BCKQHĐKD. Nếu các giao dịch và các sự kiện được ghi nhận trực tiếp vào vốn chủ sở hữu thì tất cả các nghiệp vụ phát sinh do ảnh hưởng thuế TNDN có liên quan cũng được ghi nhận trực tiếp vào vốn chủ sở hữu.
Chuẩn mực này còn đề cập đến việc ghi nhận tài sản thuế thu nhập hoãn lại phát sinh từ các khoản lỗ tính thuế chưa sử dụng hoặc từ các ưu đãi về thuế TNDN chưa sử dụng; việc trình bày thuế TNDN trong BCTC và việc giải trình các thông tin liên quan tới thuế TNDN. NỘI DUNG VẬN DỤNG CHUẨN MỰC KẾ TOÁN SỐ 17 - THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TRONG CÔNG TÁC KẾ TOÁN THUẾ THU NHẬP Ở CÁC DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở pháp lý của việc vận dụng chuẩn mực kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp Các chính sách Nhà nước ảnh hưởng đến việc hạch toán thuế TNDN: - Luật thuế TNDN: Luan van 9 + Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 3/6/2008 thay thế cho Luật thuế số 9/2003/QH11 được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003. + Luật số 32/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNDN số 14/2008/QH12 - Nghị định quy định chi tiết Luật: + Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ban hành ngày 26/12/2013, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN.
- Thông tư hướng dẫn: + Thông tư số 78/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN. - Chế độ kế toán doanh nghiệp: + Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15/2/2005 về việc ban hành và công bố sáu chuẩn mực kế toán Việt Nam (đợt 4), quan trọng nhất liên quan đến thuế TNDN là chuẩn mực kế toán số 17 - Thuế TNDN. + Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 về việc ban hành chế độ kế toán DN, áp dụng cho tất cả các DN thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần kinh tế trong cả nước. Quyết định này thay thế cho Quyết định 1141- TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 và Thông tư số 100/1998/TT-BTC ngày 15/7/1998.
+ Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa. + Thông tư số 20/2006/TT-BTC ngày 20/3/2006 hướng dẫn kế toán thực hiện sáu (06) chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC. Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành Theo VAS 17: “Thuế TNDN hiện hành là số thuế TNDN phải nộp (hoặc thu hồi được) tính trên thu nhập chịu thuế và thuế suất thuế TNDN của năm hiện hành” [1]. Như vậy, thuế TNDN hiện hành được tính dựa trên thu nhập chịu thuế và thuế suất thuế TNDN của năm hiện hành.
Việc xác định thu nhập chịu thuế thường dựa vào lợi nhuận kế toán và các khoản điều chỉnh tăng, giảm doanh thu, chi phí. Chính các khoản điều chỉnh tăng, giảm này là các khoản chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế. Lợi nhuận kế toán Theo VAS 17 đoạn 03, lợi nhuận kế toán là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ quy định [1]. Lợi nhuận kế toán phụ thuộc rất nhiều vào các chính sách kế toán mà doanh nghiệp lựa chọn phù hợp với các quy định của Chuẩn mực kế toán và Chế độ kế toán áp dụng như: chính sách khấu hao; chính sách phân bổ tài sản đã xuất dùng; chính sách ghi nhận doanh thu; chính sách và phương pháp tập hợp chi phí, tính giá thành;.Các chính sách này phải được thuyết minh chi tiết trong phần Thuyết minh Báo cáo tài chính.
Nguyên tắc cơ bản xác định lợi nhuận kế toán Các nguyên tắc kế toán cơ bản hướng dẫn xác định kết quả kinh doanh bao gồm: cơ sở kế toán dồn tích, nguyên tắc ghi nhận doanh thu, nguyên tắc phù hợp. Các nguyên tắc này ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận kế toán thông qua việc xác định doanh thu kế toán và chi phí kế toán để tính được lợi nhuận kế toán. Doanh thu kế toán Theo VAS 01 đoạn 43, doanh thu và thu nhập khác được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi thu được lợi ích kinh tế trong Luan van 11 tương lai có liên quan tới sự gia tăng về tài sản hoặc giảm bớt nợ phải trả và giá trị gia tăng đó phải được xác định được một cách đáng tin cậy [1]. Mọi nghiệp vụ kinh tế liên quan đến doanh thu phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền.
Điều kiện ghi nhận doanh thu (VAS 17, đoạn 10, Bộ Tài Chính, 2001) cho thấy ghi nhận doanh thu không phụ thuộc vào hóa đơn bán hàng đã lập hay chưa. Chi phí kế toán Theo VAS 01 đoạn 44, chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí khác được ghi nhận trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khi các khoản chi phí này làm giảm bớt lợi ích kinh tế trong tương lai có liên quan đến việc giảm bớt tài sản hoặc tăng nợ phải trả và chi phí này phải được xác định một cách đáng tin cậy [1]. Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền. Các khoản chi phí được ghi nhận phải tuân thủ nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí.
Dựa vào nguyên tắc này, khi doanh thu xác định liên quan đến lợi ích kinh tế thu được trong nhiều kỳ kế toán (chẳng hạn doanh thu nhận trước được phân bổ) thì các chi phí liên quan được ghi nhận trên cơ sở phân bổ hợp lý (tuân theo nguyên tắc phù hợp).