Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LOGISTICS VÀ DỊCH VỤ LOGISTIC TRONG LĨNH VỰC VẬN TẢI ĐƢỜNG SẮT 1. Khái niệm logistic 1. Pháp luật về logistic tại Việt Nam 1. Dịch vụ logistics trong lĩnh vực vận chuyển hàng hóa bằng đƣờng sắt Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS TRONG LĨNH VỰC VẬN TẢI ĐƢỜNG SẮT TỪ THỰC TIỄN TỈNH LÀO CAI 1.
Thực tiễn hoạt động dịch vụ Logistics đƣờng sắt tại tỉnh Lào Cai 7 2. Những vấn đề pháp lý phát sinh từ thực tiễn hoạt động logistics đƣờng sắt 3. Nguyên nhân làm phát sinh các vấn đề pháp lý trong lĩnh vực logistics đƣờng sắt. Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LOGISTICS TẠI VIỆT NAM.
8 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LOGISTICS VÀ DỊCH VỤ LOGISTIC TRONG LĨNH VỰC VẬN TẢI ĐƢỜNG SẮT 1. Khái niệm logistics 1. Nguồn gốc của thuật ngữ logistics Theo cách dịch phổ thông, logistics có nghĩa là “dịch vụ hậu cần” hoặc “hậu cần”. Đây là khái niệm đƣợc Việt hóa và đƣợc đông đảo ngƣời hoạt động trong và ngoài ngành Logistics tại Việt Nam sử dụng cho đến khi Logistics là cụm từ đƣợc ghi nhận nguyên văn trong các văn bản pháp luật Việt Nam.
Ngoài cụm từ dịch vụ hậu cần, một khái niệm Việt hóa khác cũng đƣợc sử dụng, đó là “kho vận”, cụm từ này cũng phổ biến trong và ngoài ngành logistics và giúp đa số ngƣời không hoạt động trong ngành logistics hiểu đƣợc dịch vụ chủ yếu mà logistics mang lại. Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động logistics rộng hơn so với dịch vụ kho bãi và vận chuyển. Tại Việt Nam, dịch vụ Logistics đƣợc định nghĩa chính thức trong Điều 223 Luật Thƣơng mại 2005 và đƣợc phiên âm là Lô-gi-stíc. Đây là cụm từ phiên âm Việt hóa nhƣng mang tính nguyên bản nhất so với các từ nƣớc ngoài khác đƣợc luật hóa, ví dụ nhƣ License (luật hóa thành li-xăng) hay Visa (luật hóa thành thị thực).
Có thể xem đây là biểu hiện của mong muốn quốc tế hóa, giúp cho pháp luật Việt Nam có đƣợc sự tƣơng thích nhất định với pháp luật thế giới, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng nhƣ hiện nay. Vào thời kỳ sơ khai, dịch vụ Logistics chƣa mang quy mô và quy trình nhƣ hiện nay mà chủ yếu để phục vụ hoạt động sản xuất tại chỗ trong phạm vi một nhà máy hay một vùng sản xuất. Do đó, hoạt động Logistics chủ yếu để tăng hiệu quả cung ứng hàng hóa với quy trình quản lý từ nguyên liệu đầu vào, đến thành phẩm/bán thành phẩm và phân phối đến khách hàng. Các dịch vụ đi kèm (nhƣ kho chứa hàng, vận chuyển) đƣợc tích hợp trong quy trình trên.
9 Nhƣ vậy, có thể thấy, Logistics đã có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời trên thế giới, từ trƣớc khi xuất hiện hoạt động thƣơng mại quốc tế. Vai trò của Logistics rất quan trọng, trong chiến tranh, nó là khâu then chốt quyết định thắng lợi trên chiến trƣờng, trong thƣơng mại, Logistics giúp hàng hóa đƣợc sản xuất với năng suất cao hơn và sau đó phân phối đến khách hàng nhanh hơn đồng thời giữ đƣợc chất lƣợng tốt. Sự đa dạng trong cách định nghĩa Logistics Trên thực tế, trong các nội dung đào tạo chuyên sâu về Logistics và chuỗi cung ứng trên thế giới và Việt Nam, Logistics đƣợc định nghĩa rộng hơn. Theo Hội đồng các chuyên gia quản lý chuỗi cung ứng (CSCMP) i, logistics (hay nguyên gốc là thuật ngữ quản trị logistics) đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Quản trị logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng…”[2].
Với cách định nghĩa này, Logistics là tổng thể các hoạt động liên quan đến vận chuyển, lƣu trữ hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ. Một cách định nghĩa phổ biến trong các tài liệu về Logistics tại Việt Nam hiện nay căn cứ theo ý kiến của Hội đồng quản lý Logistics Hoa Kỳ (Council of Logistics Management-CLM)[3]: “Logistics là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát một cách có hiệu quả chi phí lưu thông, dự trữ nguyên vật liệu, hàng tồn kho trong quá trình sản xuất sản phẩm cùng dòng thông tin tương ứng từ điểm xuất phát đầu tiên đến điểm tiêu dùng cuối cùng nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng”. Sau khi Luật Thƣơng mại 2005 chính thức luật hóa hoạt động Logisitics, dịch vụ này đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các th ủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng 10 hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Có thể thấy rằng, Luật Thƣơng mại 2005 đang định nghĩa Logistics theo hƣớng liệt kê một cách cụ thể các nội dung của dịch vụ Logistics, tuy nhiên, với vai trò là một phần của quản trị chuỗi cung ứng, Logisitics ngày càng phát triển đa dạng về nội dung dịch vụ, do đó phƣơng án định nghĩa thông qua liệt kê sẽ phát sinh nhiều hạn chế.
Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam gần 20 năm về trƣớc, khi Luật Thƣơng mại ra đời, cách định nghĩa trên có thể tƣơng đối phù hợp. Theo quan điểm của tác giả, dựa trên những cách định nghĩa đa dạng trên thế giới, kết hợp với kinh nghiệm thực tế, Logistics là tổng thể những hoạt động nhằm tối ưu hóa việc cung ứng sản phẩm từ nơi sản xuất đến tay khách hàng. Phân loại Logistics Theo các học thuyết về Logistics hiện đại, nếu căn cứ theo vị trí của nhà cung cấp dịch vụ với khách hàng (đầu – cuối), có thể chia Logistics ra làm 4 loại: Loại một, Logistics bên thứ nhất (1 PL - First Party Logistics): Ngƣời chủ sở hữu hàng hoá tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động Logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân. Theo hình thức này, chủ hàng phải đầu tƣ vào phƣơng tiện vận tải, kho chứa hàng, hệ thống thông tin, nhân công,… để quản lý và vận hành hoạt động Logistics.
Loại thứ hai, Logistics bên thứ hai (2 PL - Second Party Logistics): Ngƣời cung cấp dịch vụ Logistics bên thứ hai là ngƣời cung cấp dịch vụ cho một hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các hoạt động Logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục Hải quan, thanh toán,…) để đáp ứng nhu cầu của chủ hàng, chƣa tích hợp hoạt động Logistics. 11 Loại thứ ba, Logistics bên thứ ba (3 PL - Third Party Logistics): 3 PL là ngƣời thay mặt cho chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ Logistics cho từng bộ phận chức năng. Do đó, 3 PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hoá, xử lý thông tin,… và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng. Loại thứ tƣ, Logistics bên thứ tƣ (4 PL - Fourth Party Logistics): 4 PL là ngƣời tích hợp (integrator) – ngƣời hợp nhất, gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi Logistics.
4 PL hƣớng đến quản trị cả quá trình Logistics, nhƣ nhận hàng từ nơi sản xuất, làm thủ tục xuất, nhập khẩu, đƣa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng. Ngoài những loại trên, ngành Logistics trong thời đại thƣơng mại điện tử phát triển còn đề xuất loại Logistics bên thứ năm (5PL), trong đó tất cả các dịch vụ Logistics đƣợc cung cấp dựa trên nền tảng điện tử để kết nối toàn bộ các thành phần trong mạng cung ứng, từ nguyên liệu cho đến sản phẩm và giao nhận. Tại Việt Nam hiện nay, có đủ các dạng thức hoạt động Logistics từ 1PL cho đến 4PL, tuy nhiên, đa số các công ty cung cấp dịch vụ Logistics tổng hợp (ở cấp 3PL trở lên) là các công ty có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, hoạt động với quy mô đa quốc gia. Nếu phân loại theo nội dung dịch vụ của các loại hình logistics, có thể liệt kê các dịch vụ Logistics phổ biến nhƣ sau: - Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp - container; - Dịch vụ kho bãi và lƣu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị.
- Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa; 12 - Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lƣu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lƣu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý lại hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container. Nếu phân loại các dịch vụ logistics theo phƣơng thức vận tải, có các loại hình phổ biến sau: - Dịch vụ vận tải hàng hải; - Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa; - Dịch vụ vận tải hàng không; - Dịch vụ vận tải đƣờng sắt; - Dịch vụ vận tải đƣờng bộ; - Dịch vụ vận tải đƣờng ống. Ngoài ra, trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển của thƣơng mại điện tử, còn có các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm: - Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật; - Dịch vụ bƣu chính; - Dịch vụ thƣơng mại bán buôn; - Dịch vụ thƣơng mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lƣu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng; - Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác. Pháp luật về Logistics tại Việt Nam 1.
Những yếu tố tác động đến pháp luật về logistics Trải qua lịch sử hình thành gần 20 năm từ năm 2005, pháp luật về Logistics tại Việt Nam chịu ảnh hƣởng từ hai yếu tố chính: 13 1. Những yếu tố đặc thù của nền kinh tế Việt Nam Không giống nhƣ nhiều quốc gia khác, Việt Nam trải qua thời kỳ chiến tranh kéo dài từ đầu thế kỷ 20, đây là nguyên nhân cơ bản khiến nền kinh tế Việt Nam bị kìm hãm trong một thời gian giài, kéo theo sự phát triển chậm của ngành Logistics.