Tổng quan nghiên cứu

Thị trường dịch vụ logistics toàn cầu ghi nhận quy mô doanh thu vượt mức 1.000 tỷ USD vào năm 2019 và được dự báo duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 6,9%/năm để đạt mốc hơn 2.000 tỷ USD vào năm 2027. Tại Việt Nam, theo ước tính của Ngân hàng Thế giới năm 2019, thị trường logistics đạt giá trị khoảng 20 đến 22 tỷ USD mỗi năm, đóng vai trò huyết mạch trong chuỗi cung ứng quốc gia. Mặc dù phương thức vận chuyển đường sắt sở hữu ưu thế vượt trội về hiệu quả năng lượng khi chỉ tiêu thụ khoảng 4,55 lít nhiên liệu cho mỗi tấn hàng hóa trên quãng đường 650 km, thị phần vận tải hàng hóa đường sắt vẫn sụt giảm nghiêm trọng trước sự cạnh tranh từ đường bộ và hàng không.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn tập trung giải quyết những rào cản thể chế, sự thiếu đồng bộ của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh dịch vụ logistics đường sắt, cùng thực trạng phân bổ thị phần mất cân đối khi các doanh nghiệp nội địa chỉ nắm giữ khoảng 20% thị phần dù chiếm đến 80% số lượng thương nhân. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là làm sáng tỏ bản chất pháp lý của dịch vụ logistics đường sắt theo Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 163/2017/NĐ-CP, phân tích những điểm nghẽn thực tiễn tại tuyến hành lang kinh tế trọng điểm Hà Nội - Lào Cai dài 296 km, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện khung khổ pháp luật và cơ chế quản lý nhà nước.

Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào mạng lưới đường sắt Việt Nam với điểm nhấn thực chứng tại tỉnh Lào Cai – địa bàn sở hữu 203 km đường biên giới giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc). Phạm vi thời gian bao quát tiến trình áp dụng pháp luật từ năm 2005 đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa then chốt nhằm thúc đẩy việc tái cơ cấu ngành giao thông vận tải, hướng tới mục tiêu nâng thị phần logistics đường sắt và cắt giảm tỷ lệ chi phí logistics đang chiếm tới 18-20% GDP quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng của Hội đồng các chuyên gia quản lý chuỗi cung ứng (CSCMP) và Hội đồng quản lý Logistics Hoa Kỳ (CLM), xác định logistics là quá trình tối ưu hóa việc hoạch định, thực hiện và kiểm soát dòng dịch chuyển cùng sự lưu trữ của hàng hóa từ điểm xuất phát ban đầu đến điểm tiêu dùng cuối cùng. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng lý thuyết điều tiết kinh tế và can thiệp nhà nước trong Luật Kinh tế để phân tích vai trò quản lý của Nhà nước đối với ngành kinh doanh có điều kiện và hạ tầng mang tính độc quyền tự nhiên như đường sắt.

Khung phân tích của đề tài gắn liền với 4 khái niệm nền tảng:

  • Dịch vụ logistics theo quy định tại Điều 233 Luật Thương mại năm 2005 và phân loại chi tiết tại Điều 3 Nghị định số 163/2017/NĐ-CP (bao gồm 17 nhóm dịch vụ cụ thể và dịch vụ mở rộng).
  • Mô hình phân tầng cung ứng dịch vụ logistics từ 1PL (tự thực hiện), 2PL (cung cấp dịch vụ đơn lẻ), 3PL (tích hợp nhà thầu chuyên nghiệp), 4PL (quản trị chuỗi tích hợp) đến 5PL (logistics trên nền tảng số và thương mại điện tử).
  • Chế định hợp đồng dịch vụ logistics và nghĩa vụ của thương nhân theo Điều 235, 236 Luật Thương mại năm 2005.
  • Quy chuẩn điều kiện kinh doanh an toàn vận tải đường sắt theo Luật Đường sắt năm 2017 và Nghị định số 65/2018/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp gồm 45 văn bản quy phạm pháp luật (Luật Thương mại, Luật Đường sắt, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, các nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành) cùng hệ thống báo cáo thống kê ngành của Bộ Công Thương, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam và Cục Hải quan tỉnh Lào Cai trong giai đoạn 2005 - 2020.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả tiến hành khảo sát, tổng hợp dữ liệu hoạt động từ 30 doanh nghiệp logistics và đơn vị vận tải hàng hóa đường sắt trên tuyến hành lang Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm tập trung vào các đơn vị có hoạt động vận tải liên vận quốc tế thường xuyên, đảm bảo tính đại diện và phản ánh xác thực các vướng mắc pháp lý nảy sinh tại cửa khẩu biên giới.

Các phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm: phương pháp phân tích quy phạm luật thực định, phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy chuẩn Việt Nam với cam kết WTO, kinh nghiệm quản lý đường sắt của Nhật Bản và Trung Quốc), và phương pháp thống kê mô tả. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp bảo đảm tính khách quan, làm rõ độ vênh giữa quy định pháp luật trên văn bản và thực tiễn áp dụng tại doanh nghiệp, đồng thời tạo cơ sở khoa học vững chắc cho các đề xuất hoàn thiện chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu thị phần logistics có sự phân hóa và mất cân đối sâu sắc. Theo thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam, trong số hơn 1.300 doanh nghiệp hoạt động thời điểm khảo sát (và mở rộng lên khoảng 3.000 doanh nghiệp vận tải, logistics toàn ngành), khối doanh nghiệp nội địa chiếm 80% về số lượng nhưng chỉ nắm giữ khoảng 20% thị phần giá trị gia tăng. Ngược lại, 80% thị phần chi phối thuộc về các tập đoàn logistics đa quốc gia (như Maersk, APL, OOCL, NYK) nhờ năng lực tài chính mạnh và mạng lưới toàn cầu.

Thứ hai, tiềm năng kinh tế vượt trội của đường sắt bị triệt tiêu bởi sự tụt hậu về hạ tầng kỹ thuật. Tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai dài 296 km có ưu thế kết nối trực tiếp với mạng lưới đường sắt Côn Minh (Trung Quốc) qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai, đồng thời cự ly vận tải ngắn hơn khoảng 49 km so với đường bộ (345 km). Mức tiêu hao năng lượng đường sắt đạt hiệu suất cao với 4,55 lít nhiên liệu/tấn/650km. Tuy nhiên, toàn bộ mạng lưới đường sắt quốc gia dài 2.600 km nói chung và tuyến Lào Cai nói riêng vẫn chủ yếu sử dụng khổ đường đơn 1.000mm, trong khi phía Trung Quốc đã chuẩn hóa sang khổ ray đôi 1.435mm, dẫn đến việc phải sang tải phức tạp tại ga biên giới, làm tăng 15-20% chi phí bốc xếp và kéo dài thời gian lưu kho bãi.

Thứ ba, rào cản thể chế và quy định điều kiện kinh doanh còn nhiều điểm bất cập. Điều 234 Luật Thương mại năm 2005 quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics phải là "doanh nghiệp", vô hình trung loại trừ các hộ kinh doanh cá thể hợp pháp. Ngoài ra, Điều 21 Nghị định số 65/2018/NĐ-CP đặt ra yêu cầu ngặt nghèo khi bắt buộc doanh nghiệp phải có ít nhất 01 nhân sự phụ trách an toàn có trình độ đại học chuyên ngành đường sắt và tối thiểu 03 năm kinh nghiệm thực tế, tạo rào cản gia nhập thị trường đối với các doanh nghiệp tư nhân mới thành lập.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu cho thấy sự suy giảm sức cạnh tranh của logistics đường sắt bắt nguồn từ cả nguyên nhân pháp lý lẫn kỹ thuật hạ tầng. Về phương diện kinh tế, việc doanh nghiệp nội địa chỉ nắm 20% thị phần là hệ quả tất yếu của mô hình cung cấp dịch vụ phân mảnh cấp độ 2PL, chủ yếu làm thầu phụ thu gom và vận chuyển nội địa cho các hãng tàu quốc tế mà chưa thể vươn lên chuỗi giá trị 3PL hay 4PL.

Dữ liệu so sánh tốc độ chạy tàu tại các tuyến đường sắt Việt Nam (được hệ thống qua bảng thống kê kỹ thuật trong luận văn) phản ánh vận tốc thương mại trung bình của tàu hàng chỉ duy trì ở mức 40-50 km/h do hệ thống ray đơn và giao cắt đồng mức dày đặc. Khi so sánh với các nghiên cứu logistics khu vực tại Trung Quốc và Nhật Bản, nơi mô hình đối tác công - tư (PPP) được triển khai triệt để nhằm tư nhân hóa dịch vụ vận hành trên hạ tầng ray của nhà nước, Việt Nam vẫn thiếu cơ chế pháp lý để nhà đầu tư tư nhân tiếp cận công bằng các tài sản kết cấu hạ tầng đường sắt như nhà ga, bãi hàng và hệ thống tín hiệu. Biểu đồ thị phần vận tải hàng hóa toàn quốc qua các năm minh chứng rõ nét xu hướng chuyển dịch khối lượng hàng hóa sang đường bộ cao tốc và đường biển, đặt ra yêu cầu cấp bách phải cải cách khung khổ điều tiết.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện các quy định pháp luật chuyên ngành về logistics và vận tải đường sắt. Đề xuất Quốc hội sửa đổi Điều 234 Luật Thương mại năm 2005 theo hướng mở rộng khái niệm chủ thể kinh doanh logistics cho mọi loại hình thương nhân, bãi bỏ các quy định hạn chế không cần thiết. Bộ Giao thông Vận tải cần phối hợp Bộ Công Thương rà soát Điều 21 Nghị định số 65/2018/NĐ-CP trong giai đoạn 2021 - 2023, điều chỉnh tiêu chuẩn nhân sự an toàn theo hướng công nhận các chứng chỉ đào tạo chuyên môn linh hoạt nhằm giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Thứ hai, ban hành cơ chế pháp lý đặc thù thu hút nguồn vốn xã hội hóa (PPP) vào kết cấu hạ tầng đường sắt. Chính phủ cần sớm xây dựng Nghị định hướng dẫn về đầu tư đối tác công - tư trong khai thác bến bãi, trung tâm logistics và toa xe chuyên dụng, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ vốn tư nhân tham gia đầu tư dịch vụ phụ trợ đường sắt lên mức 30-35% vào năm 2025.

Thứ ba, đẩy nhanh tiến độ quy hoạch và nâng cấp khổ đường sắt tiêu chuẩn 1.435mm. Bộ Giao thông Vận tải và Tổng công ty Đường sắt Việt Nam cần ưu tiên triển khai dự án cải tạo tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng sang khổ ray tiêu chuẩn 1.435mm kết nối liên thông với mạng lưới đường sắt quốc tế trước năm 2030, giảm thiểu thời gian tác nghiệp chuyển tải tại ga cửa khẩu quốc tế Lào Cai xuống dưới 6 giờ/đoàn tàu.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số và đơn giản hóa thủ tục hải quan liên vận. Tổng cục Hải quan phối hợp Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai hoàn thiện hạ tầng thông quan điện tử một cửa tại cửa khẩu đường sắt quốc tế, phấn đấu giảm 30% thời gian xử lý hồ sơ chứng từ xuất nhập khẩu hàng hóa liên vận trong giai đoạn 2022 - 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Bộ Công Thương, Bộ Giao thông Vận tải, Cục Đường sắt Việt Nam): Sử dụng luận văn làm cơ sở dữ liệu thực tiễn và luận cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng chiến lược phát triển logistics đường sắt quốc gia đến năm 2030.
  • Các doanh nghiệp logistics, vận tải đường sắt và đại lý thủ tục hải quan: Tham khảo để nhận diện đầy đủ quyền, nghĩa vụ pháp lý trong hợp đồng dịch vụ logistics (Điều 235, 236 Luật Thương mại), nắm vững các điều kiện kinh doanh và giới hạn trách nhiệm khi khai thác tuyến liên vận quốc tế qua Lào Cai.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học chuyên ngành Luật Kinh tế, Logistics và Quản trị Chuỗi cung ứng: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về luật thương mại dịch vụ, bổ sung góc nhìn thực tiễn về cơ chế điều tiết vận tải đường sắt tại các khu vực biên giới.
  • Ban quản lý khu kinh tế cửa khẩu và chính quyền địa phương tỉnh Lào Cai: Khai thác kết quả nghiên cứu để quy hoạch hệ thống kho bãi, cảng cạn (ICD), tối ưu hóa luồng hàng hóa trung chuyển qua hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao doanh nghiệp logistics Việt Nam chiếm 80% về số lượng nhưng chỉ giữ 20% thị phần?
Phần lớn doanh nghiệp nội địa có quy mô vốn nhỏ, hạ tầng kho bãi phân mảnh và công nghệ quản lý hạn chế. Do đó, các đơn vị này chủ yếu đóng vai trò nhà thầu phụ cung cấp dịch vụ giao nhận, vận chuyển chặng ngắn (2PL), trong khi các tập đoàn FDI chi phối toàn bộ chuỗi logistics tích hợp quốc tế (3PL, 4PL) có giá trị gia tăng cao.

Nghị định số 163/2017/NĐ-CP có những điểm mới nổi bật nào so với Nghị định số 140/2007/NĐ-CP?
Nghị định số 163/2017/NĐ-CP phân định rõ 17 nhóm dịch vụ logistics, bổ sung quy định mở đối với các dịch vụ thỏa thuận theo nguyên tắc Luật Thương mại, đưa dịch vụ bưu chính ra khỏi phạm vi logistics để tránh xung đột pháp luật, đồng thời bổ sung khung điều chỉnh riêng cho hoạt động logistics trên nền tảng thương mại điện tử.

Tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai giữ vai trò như thế nào trong chuỗi logistics khu vực?
Tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai dài 296 km là mắt xích huyết mạch trong hành lang kinh tế Bắc - Nam kết nối vùng Tây Bắc với đồng bằng sông Hồng và cảng biển Hải Phòng. Tuyến nối trực tiếp với 203 km đường biên giới tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), giữ vai trò cửa ngõ giao thương liên vận quốc tế trọng điểm.

Vận tải đường sắt thể hiện ưu thế chi phí và môi trường ra sao so với đường bộ?
Vận tải đường sắt có độ an toàn cao, ít chịu ảnh hưởng bởi biến động giá nhiên liệu do chi phí năng lượng thấp (khoảng 4,55 lít nhiên liệu/tấn/650km). Phương thức này cho phép vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng trên cự ly dài với mức phát thải khí nhà kính thấp hơn nhiều so với vận tải bằng xe tải đường bộ.

Quy định pháp luật hiện hành về điều kiện kinh doanh vận tải đường sắt có điểm nghẽn gì?
Nghị định số 65/2018/NĐ-CP quy định doanh nghiệp phải có tối thiểu 01 nhân sự phụ trách an toàn có bằng đại học chuyên ngành đường sắt và 03 năm kinh nghiệm thực tế. Quy định này tạo rào cản kỹ thuật lớn đối với các doanh nghiệp tư nhân muốn gia nhập thị trường, trong bối cảnh nguồn nhân lực đường sắt được đào tạo bài bản còn khan hiếm.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện khung pháp luật về logistics tại Việt Nam, chỉ rõ các điểm nghẽn trong Luật Thương mại năm 2005 và các nghị định chuyên ngành liên quan đến thị trường 20-22 tỷ USD này.
  • Đánh giá thực chứng hoạt động vận tải đường sắt tuyến Hà Nội - Lào Cai (296 km), làm sáng tỏ tiềm năng liên vận quốc tế kết nối với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).
  • Nhận diện các nguyên nhân cốt lõi khiến khối doanh nghiệp nội địa chỉ giữ 20% thị phần, bao gồm rào cản hạ tầng ray khổ 1.000mm và hạn chế thể chế xã hội hóa đầu tư.
  • Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, trọng tâm là sửa đổi Điều 234 Luật Thương mại, giảm tải điều kiện kinh doanh tại Nghị định số 65/2018/NĐ-CP và triển khai cơ chế hợp tác công - tư (PPP).
  • Đề ra lộ trình hiện đại hóa hạ tầng đường đôi khổ ray 1.435mm đến năm 2030, thúc đẩy cải cách thủ tục hải quan điện tử liên vận nhằm tối ưu hóa chuỗi cung ứng quốc gia.

Công trình của học viên Mai Trung Thành cung cấp luận cứ khoa học sắc bén và giải pháp thực tiễn có giá trị cao cho tiến trình cải cách thể chế logistics đường sắt tại Việt Nam. Quý độc giả, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác chi tiết các bảng biểu số liệu và luận điểm pháp lý hoàn chỉnh trong toàn văn công trình nghiên cứu.