Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ XỬ LÍ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP PHÁ SẢN 1. TAI SAN CUA DOANH NGHIỆP PHA SAN 1. Khai niém vé doanh nghiép pha san Phá san là một hiện tượng kinh tế xã hội tồn tai khách quan trong nền kinh tế thị trường, nó không tồn tại trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Bởi lẽ, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung không có sự cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh, Nhà nước luôn áp dụng chính sách: “Khi có công ty, xí nghiệp làm ăn thua lỗ thì có cơ quan cấp trên bù lỗ bằng tiền ngân sách, đình chỉ hoạt động hoặc giải thể” |32, Tr.
Khác với cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, cơ chế thị trường tạo lập một sân chơi bình đẳng cho các chủ thể kinh doanh, do vậy hiện tượng cạnh tranh được diễn ra thường xuyên và rất gay gắt, đòi hỏi các chủ thể này phải cố gắng để duy trì sự tồn tại của mình và tìm mọi cách để chiếm lĩnh thị trường. Trong số các chủ thể kinh doanh tồn tại một bộ phận không nhỏ những doanh nghiệp yếu kém, làm ăn thua lỗ, dẫn đến nợ nần chồng chất, mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, và sau đó bị phá sản. Trên thế giới “phá sản” xuất hiện rất sớm. Thuật ngữ “phá sản” bắt nguồn từ chữ “Rutn” trong tiến La tình có nghĩa là “su khánh tận”, là việc mất khả năng thanh toán.
Ở Châu Âu, khi nói đến phá sản, người ta thường dùng danh từ: “Bankrupcy” trong tiếng Anh hay “Baqueroute” trong tiếng Pháp với nghĩa là “làm phá sản”. Hai từ này có nguồn gốc từ chữ “Banca Rotta” của La mã, có nghĩa là: “Chiếc ghế bị gãy”. Thời đó, các thương gia của một thành phố thường họp nhau lại, người nào mất khả năng thanh toán nợ thì cũng mat luôn quyền tham gia các đại hội thương gia và chiếc ghế ngồi của người đó bị đem ra khỏi hội trường [23, Tr. Ở Việt Nam xuất hiện thuật ngữ “khánh tận” từ năm 1972.
Tại điều 864 của Bộ luật Thương mại Sài Gòn 1972 quy định thương gia ngưng trả nợ sẽ bị tuyên án khánh tận. Như vậy, khánh tận cũng được hiểu là mất khả năng thanh toán. Tuy nhiên, mãi đến năm 1990, khi phá sản được thừa nhận là một hậu quả tất yếu của nền kinh tế thị trường thì thuật ngữ “phá sản” mới được quy định trong hai văn bản pháp lí quan trọng: Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty (ban hành cùng ngày 21/12/1990). Theo điều 24 Luật Công ty: “Công ty gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến mức tai một thời điểm tổng số trị giá các tài sản còn lại của công ty không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn, là doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản”.
Tương tự như vậy, điều 17 Luật Doanh nghiệp tư nhân cũng quy định “doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh đến mức tại một thời điểm tổng số trị giá các tài sản còn lại của công ty không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn, là doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng phá sản”. Đến năm 1993, cách hiểu về “phá sản” được hoàn thiện hơn một bước, được thể hiện ở một văn bản pháp lí rất quan trọng quy định về trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp là Luật phá sản doanh nghiệp (1993). Tại điều 2 Luật phá sản doanh nghiệp (1993) quy định: “doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc thua lỗ trong hoạt động kinh doanh, sau khi áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn”. Ngoài ra, tại điều 3 Nghị định 189/CP (ngày 23/12/1994) hướng dẫn thi hành Luật phá sản doanh nghiệp quy định dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản là: “Doanh nghiệp bị thua lỗ trong hai năm liên tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả đủ lương cho người lao động theo thoả ước lao động và hợp đồng lao động trong ba tháng liên tiếp”.
Đồng thời điều 3 còn quy định khi xuất hiện dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản, doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn, bao gồm: có phương án tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh, quản lí các khoản chi phí, tim thị trường tiêu thu sản phẩm; có biện pháp xử lí hàng hoá, vật tư tồn đọng; thu hồi các khoản nợ và tài sản bị chiếm dụng; thương lượng với các chủ nợ để hoãn nợ, mua nợ, bảo lãnh, giam nợ, xoá nợ; tìm kiếm các khoản tài trợ và các khoản vay dé trang trải các khoản nợ đến hạn và đổi mới công nghệ. Như vậy, so với quy định tại Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty thì quy định như Luật phá sản doanh nghiệp (1993) và Nghị định 189/CP day đủ hơn và chính xác hơn. Nếu quan niệm dấu hiệu cơ bản nhất để xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là: Tại một thời điểm trị giá của tổng số tài sản nợ đến hạn lớn hơn giá trị của tổng tài sản có thì chưa chính xác, bởi vì một doanh nghiệp cho dù tại một thời điểm nào đó giá trị của tổng số nợ đến hạn lớn hơn tổng số tài sản có của doanh nghiệp, nhưng chưa hẳn đã đưa doanh nghiệp đó đến khả năng mất thanh toán nợ đến hạn nếu như các chủ nợ hoãn nợ, hoặc xoá nợ cho doanh nghiệp, hoặc có người đứng ra mua nợ, hay bảo lãnh cho doanh nghiệp. Vậy, doanh nghiệp chỉ có thể bị coi là lâm vào tinh trạng phá sản khi doanh nghiệp mất kha năng thanh toán nợ đến han sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết.
Tuy nhiên, quy định về doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản như điều 2 Luật phá sản doanh nghiệp (1993) và khoản | điều 3 Nghị định 189/CP chưa hoàn thiện, còn nhiều bất cập. Theo các quy định này, có thể nói, các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản hay những người có quyền nộp đơn đề nghị giải quyết phá sản doanh nghiệp rất khó có thể đưa vụ việc đến Toà án. Dường như vào thời điểm Luật phá sản doanh nghiệp (1993) được thông qua, việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp còn quá mới mẻ và có thể có nhiều ý kiến khác nhau về các hậu quả khác của việc cho phép doanh nghiệp phá sản. Ví dụ: hậu quả về mất việc làm cho người lao động hay ảnh hưởng tới sự ổn định xã hội mà không có sự chú ý thích đáng cho chính các doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng không thể hoạt động, không thể trả nợ, không đem lại lợi nhuận cho chủ doanh nghiệp va xã hội, song van phải tồn tại.
Các điều kiện mà các quy định nói trên nêu ra để đưa việc phá sản doanh nghiệp đến Toà án, có thé là quá muộn khi nhìn vào thời han “hai năm thua lỗ liên tiếp” của doanh nghiệp dân đến “không trả được nợ đến hạn”, hay “ba tháng liên tiếp” không "tra đủ lương cho người lao động”. Bởi lẽ, đã đến tình trạng như vậy thì khả năng “phục hoi” của doanh nghiệp là rất khó và việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp để nhằm mục đích “trả nợ tập thể” cho các chủ nợ được xem là không kha thi do doanh nghiệp cũng không còn tài sản gi để có thể thanh toár. Mat khác, quy định doanh nghiệp phải kiểm toán trước khi đưa vụ án ra toà án là một cản trở cho việc đưa đơn. Trong trường hợp doanh nghiệp lúc đó không có đủ khả năng để trả tiền cho việc thuê kiểm toán thì Toà án cũng không nhận đơn để giải quyết việc phá sản.
Những bất cập như đã nêu trên cần được khắc phục trong Luật phá sản (sửa đồi) thời gian tới. Trong đó, chúng ta có thể tìm hiểu kinh nghiệm của mét số nước quy định về vấn đề này. Ví dụ, Luật phá san của Nhật Bản quy định: “Khi một người mắc nợ ngừng trả tiền thì người đó được coi là không thể trả được nợ”; Luật phá sản của Pháp quy định: “Mọi thương nhân và pháp nhâr, kể cả các pháp nhân không có quy chế thương nhân, khi bị lâm vào tinh trạng ngừng thanh toán thì đều phải khai báo trong thời hạn 15 ngày để mở thủ tục phục hồi đoanh nghiệp hoặc thủ tục thanh lí doanh nghiệp”, còn Luật pha san của Trung Quốc có quy định: “Trong trường hợp người mac nợ không còn chả năng thanh toán các khoản nợ đến han, thì các chủ nợ có thể làm đơn yêu sầu giải quyết phá sản đối với người mắc nợ”. Theo chúng tôi, nên xác định thời điểm thụ lí đơn để xem xét việc phá sản sớm hơn như các nước nhằm khac phục những bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành.
Nhu vậy, cần quy định theo hướng xác định thời điểm có thể đưa vụ việc đến Toà án khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán được nợ đến hạn. Theo xu hướng chung của thế giới, sau khi xác định doanh nghiệp không còn kha năng thanh toán nợ đến hạn (nói cách khác doanh nghiệp đã lâm vào tinh trạng pha san) thì Toà án sẽ tiến hành điều tra, xem xét tình trạng tài chính và khả năng phục hồi hoạt động của doanh nghiệp để áp dụng một trong các thủ tục: thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; thủ tục thanh toán tài sản hoặc thủ tục tuyên bố phá sản cho phù hợp với tình hình cụ thể của doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp không có khả năng phục hồi, Toà án sẽ áp dụng ngay thủ tục thanh toán tài san. Thậm chí, nếu xác định tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ để thanh toán chi phí phá sản, Toà án có thể tuyên bố phá sản ngay mà không phải tiến hành bất kỳ thủ tục nào.
Nhưng theo quy định của pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành, dù tình trạng tài chính và khả năng phục hồi của doanh nghiệp như thế nào đều phải tuân theo một trình tự nhất định: Mo thủ tục phá sản, tiến hành hoà giải, đưa ra giải pháp tổ chức lại hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nếu biện pháp này thất bại, Toà án mới ra quyết định tuyên bế phá sản doanh nghiệp, chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp.