mở đầu cho mối liên hê gắn bó giữa Pháp với Giáo hội về vấn đề Đại Việt. Tháng 7 – 1663, vua Louis XIV công nhận tư cách “pháp nhân dân sự” của Chủng viện thừa sai Paris - tên ban đầu là Chủng viện các xứ truyền giáo nước ngoài. Như vậy, trong khoảng thời gian 1663 – 1664, hội truyền giáo nước ngoài Paris (La société des Missions Étrangères de Paris – MEP) chính thức ra đời4. Mục đích duy nhất là truyền bá đức tin cho những lương dân… sẽ thâu nhận tất cả những linh mục muốn theo mục đích đó để thử thách và huấn luyện họ bằng tất cả những phương pháp thích hợp để họ có thể hoạt động trong bất cứ một địa sở truyền giáo nà.
Với sự ra đời của CIO và MEP cho thấy sự hợp nhất giữa tôn giáo và thương mại của Pháp trong tiến trình bành trướng thuộc địa. Biến đổi xã hội Đại Việt: xã hội phương Đông nói chung và Đại Việt nói riêng, từ đầu thế kỉ XVII đã có những biến đổi. Chế độ phong kiến bắt đầu có sự suy thoái do không đáp ứng được những biến đổi từng ngày của kinh tế xã hội. Thương mại trên biển phát triển trên bình diện quốc tế và khu vực đã khiến xã hội Đại Việt và cả Phương Đông nhanh chóng sản sinh ra một tầng lớp cư dân mới – phú thương.
Biến đổi kinh tế - xã hội: Trên Biển Đông vốn trước đó đã tồn tại “con đường tơ lụa trên biển” nằm trên tuyến đường Bắc - Nam, nay hợp cùng với 4 Chủng viện có trước hội nhưng những người sáng lập lại là những giám mục thuộc Hội truyền giáo nước ngoài Paris. Footer Page 21 of 107. 20 Header Page 22 of 107. tuyến Đông – Tây.
Con đường này vốn do thương nhân Trung Hoa và Nhât Bản nắm giữ, nay có sự tham gia của các tàu buôn phương Tây lại càng làm cho họat động trên Biển Đông trở nên nhộn nhịp hơn bao giờ. Tuyến đường giao thương nhanh chóng thu hút các nước Phương Tây. Họ dựa trên sức mạnh từ các công ty giao thương được thiết lập đặt tại Đại Việt cũng như các nước lân cận khác để tạo thế mạnh lấn lướt rồi nắm giữ thế độc quyền trên cả hai tuyến đường Bắc – Nam, Đông – Tây. Mặc dù các thương nhân bản xứ mất thế độc tôn nhưng họ lập tức trở thành trung gian giữa thương nhân Phương Tây và thị trường bản địa.
Một mặt họ trở thành đối tác với thương nhân Phương Tây, mặt khác ở một góc độ nhất định nhờ vào những thế mạnh đặc trưng họ vẫn là đối thủ cạnh tranh. Trong bối cảnh giao thương nhộn nhịp, sầm uất đó, Đại Việt cũng không thể đứng ngoài luồng. Nhất là khi Đại Việt giữ vị trí quan trọng nhất trên tuyến giao thương đường biển. Đại Việt vừa là trung tâm của hai tuyến hải lộ, vừa là đầu mối trên con đường giao thương đó.
Hơn thế, Đại Việt là thị trường phong phú về các mặt hàng quan trọng, các thương cảng với vị trí thuận lợi đã nhanh chóng thu hút các tàu buôn Phương Tây. Chính quyền Đàng Trong và Đàng Ngoài cũng dự nhập vào luồng thương mại này. Thương mại Đại Việt thời kì này cũng nhờ đó mà có những bước phát triển, để lại những dấu ấn nhất định đối với đời sống kinh tế của một xã hội phong kiến. Tình hình kinh tế - xã hội Đại Việt thời kì này có sự biến động mạnh mẽ.
Cuộc nội chiến kéo dài đã làm suy yếu nền kinh tế nông nghiệp của cả Đàng trong và Đàng Ngoài. Sau sự suy yếu của Chăm Pa, Chân Lạp, chúa Nguyễn cho mở rộng lãnh thổ, tiến sâu về phía Nam. Lúc này, chúa Nguyễn và chúa Trinh nhận thấy sự thay đổi của nền kinh tế mậu dịch, thương mại cũng như sự cần thiết đáp ứng nhu cầu của nhà nước liền tiến hành cho lập các quan xưởng trên cả nước. Footer Page 22 of 107.
21 Header Page 23 of 107. Cùng với hoạt động của các quan xưởng, làng nghề thủ công được khuyến khích phát triển. Sản phẩm làm ra được rất đa dạng, có chất lượng và mẫu mã được thương nhân nước ngoài đánh giá rất cao. Mặc dù thế kỉ XVII – XVIII vẫn diễn ra nội chiến nhưng kinh tế thương mại ở cả hai Đàng đều phát triển.
Biểu hiện rõ nhất là sự phát triển rộng khắp của mạng lưới hệ thống chợ. Cùng với các chợ lớn ở các phủ, huyện là một hệ thống chợ làng dày đặc. Ngoài ra, sự xuất hiện của Thị tứ ở những nơi có giao thông thuận lợi giúp thúc đẩy kinh tế hàng hóa ở các làng xã. Gắn liền với đó là sự liên kết của mạng lưới các chợ và mở rộng ra là lưu thông liên vùng và sự hưng thịnh của các đô thị (đặc biệt là các đô thị cảng).
Sự liên kết đó thúc đẩy thị trường nội thương phát triển. Nội thương thay đổi đã phá vỡ mô hình tự cấp tự túc của làng xã truyền thống. Từ đó, nó kéo theo một loạt những thay đổi trong đời sống xã hội: các cuộc di động xã hội bùng phát5, địa vị xã hội có sự chuyển biến khi ngày càng có nhiều người nghèo trở nên giàu có, đi kèm với các luồng di cư từ nông thôn ra thành thị là việc tập trung một lượng dân cư có chất lượng cao về các đô thị. Nền sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, nội thương không còn đáp ứng được nhu cầu thị trường.
Điều này là khởi nguồn cho các yếu tố mang tính ngoại thương trong lòng xã hội Đại Việt. Vốn là một nước có vị thế quan trọng trên con đường thương mại hàng hải, lại có nhiều cảng biển ở vị trí thuận lợi, Đại Việt nhanh chóng tham gia vào hệ thống mậu dịch Biển Đông. Là một thị trường với sự phong phú của các mặt hàng thương mại, Đại Việt trở thành điểm đến các thương nhân Châu Âu. 5 Còn gọi là các cuộc thiên di do chiến tranh, mưu sinh… Nó không chỉ là các cuộc di dân thông thường mà đó còn kéo theo sự chuyển đổi ngành nghề, nhất là khi tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp đang trong giai đoạn hưng thịnh.
Footer Page 23 of 107. 22 Header Page 24 of 107. Các mặt hàng lâm thổ sàn quý hiếm đều do vua chúa nắm độc quyền6: sản phẩm thuộc họ trầm hương, ngà voi, yến sào, quế là những mặt hàng được thương nhân Phương Tây săn đón nhất. Theo như Lê Quý Đôn thì “trầm hương gồm có ba loại; kỳ nam, trầm hương và khổ trầm.
trong đó quý nhất là kỳ nam (chôn sâu dưới đất chừng năm chân thế vấn ngửi thấy mùi thơm”[03, tr. Bên cạnh đó, mặt hàng quan trọng khác là tơ lụa và đường mía được đánh giá rất cao, nhất là tơ lụa ở Đàng Ngoài. Tơ lụa của Đàng Ngoài được đánh giá không kém loại tơ lụa Trung Hoa (vốn được xem là loại tinh xảo nhất khu vực). Thậm chí chỉ có tơ lụa loại 1 của Trung Hoa mới bằng với tơ lụa của Đàng Ngoài.
Mặt hàng này đã đem lại nguồn lợi nhuận rất lớn cho công ti Đông Ấn Hà Lan (VOC). “Trong suốt 14 năm, từ 1641 – 1654) VOC thu lợi nhuận từ tơ lụa trung bình là trên 100%” [88 tr. Ngoài ra, ở Đàng trong còn có một lượng vàng khá lớn được bán ra. Vàng của Đại Việt được đánh giá còn tinh khiết hơn cả vàng của Nhật Bản.
Thương nhân Châu Âu cũng rất chú trọng đến các sản phẩm chỉ phổ biến ở phương Đông như: hàng thủ công mỹ nghệ, lâm thổ hải sản như: thảo quả, tiêu, các lạo gia vị, phỉ thúy, các loại gỗ quý, hải sâm,, ngọc trai, đồi mồi, gốm sứ… Sự phát triển của ngoại thương đã góp phần thúc đẩy thị trường hàng hóa nội địa trở nên nhộn nhịp hơn. Cùng với sự phát triển kinh tế thương mại đó là sự chuyển biến mạnh mẽ của xã hội. Sự xuất hiện và lớn mạnh không ngừng của tầng lớp thị dân, thương nhân đã làm thay đổi bộ mặt xã hội. Biểu hiện rõ ràng nhất sự hưng khởi của các đô thị.
Đô thị ở Đại Việt chủ yếu là các đô thị cảng. Đàng ngoài có Thăng Long nhộn nhịp với 36 phố phường, trở thành trung tâm kinh tế chính trị. Phố Hiến lại là trung tâm thương mại lớn nhất của Đàng Ngoài, không chỉ là nơi giao thương mà còn là nơi cư trú cảu những người nước ngoài đến buôn bán ở đây. Đàng Trong có các đô thị 6 Thực chất thì chủ yếu là do chúa Trinh và chúa Nguyễn nắm quyền kiểm soát Footer Page 24 of 107.
23 Header Page 25 of 107. Thanh Hà, Bao Vinh, Nước Mặn, Hà Tiên, Gia Định, Hội An… Trong đó, Hội An trở thành đô thị sầm uất nhất, nơi tập trung giao thương quốc tế. Nói như giáo sư Nguyễn Thừa Hỷ thì dù đô thị Đại Việt thời kỳ này có sự phát triển nhất định “nhưng không thể nào thoát khỏi gọng kìm áp chế của nhà nước phong kiến quan liêu cũng như sự níu kéo bền dai của cộng đồng làng xã”7. Xét về thực chất thì việc “đô thị hóa” hay xuất hiện các “thành thị tự do” theo đúng mô hình của nền kinh tế tư bản không diễn ra trong lịch sử Việt Nam trung đại.
Tuy nhiên, sự phát triển của các đô thị Đại Việt thời kì này vẫn là hiện tượng chưa từng xảy ra và cũng không lặp lại sau này trong lịch sử Việt Nam. Bên cạnh sự hưng thịnh của các đô thị, tầng lớp thị dân, thương nhân cũng giữ vai trò quan trọng. Họ là những người trực tiếp tham gia buôn bán, tạo nên sức sống sầm uất cho các đô thị. Họ cũng là tầng lớp tiếp xúc nhiều với các thương nhân nước ngoài, tạo nền tảng đưa Đại Việt hội nhập vào hệ thống mậu dịch khu vực.
Xét về kinh tế ngoại thương thời kì này, Đàng trong bắt đầu thực hiện giao dịch thương mại trước Đàng ngoài. Các chúa Nguyễn mở cửa cảng Hội An chào đón những thương nhân người Hoa, Nhật đến buôn bán. Triều đình cũng cho phép những thương nhân này được xây dựng và sống trong các khu phố riêng. Khi thương nhân Châu Âu tìm đến Đại Việt, họ đến giao thương đầu tiên tại cửa biển Hội An.
Bắt đầu từ thương nhân Bồ Đào Nha đến Hà Lan rồi Anh và Pháp lần lượt đến thiết lập quan hệ buôn bán với Đại Việt. Thương cảng Faifo nhanh chóng trở thành trung tâm buôn bán Bồ Đào Nha và các nước khác. Sau khi thiết lập quan hệ với Đàng Trong, thương nhân các nước bắt đầu tìm cách tiến ra Đàng Ngoài. Mục tiêu của thương nhân Hà Lan, Anh, Pháp hướng tới là Thăng Long và Phố Hiến.