Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2. Kinh tế đồn điền ở miền Tây Nam Kỳ từ năm 1900 đến năm 1918 Chương 3. Kinh tế đồn điền ở miền Tây Nam Kỳ từ năm 1919 đến năm 1945 Chương 4.
Đặc điểm và tác động của kinh tế đồn điền đối với kinh tế xã hội miền Tây Nam Kỳ nửa đầu thế kỉ XX 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu của tác giả nƣớc ngoài Vấn đề kinh tế nông nghiệp ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng thời Pháp thuộc được rất các tác giả người Pháp quan tâm nghiên cứu. Trong đó có nhiều công trình được nghiên cứu nghiêm túc, công phu, có giá trị khoa học. Tài liệu Note sur les anciens Don Dien Annamites dans la Basse – Cochinchine (Chú thích về đồn điền cũ của An Nam tại Nam Kỳ) của E.Deschaseaux in tại Sài Gòn năm 1889.
Tài liệu này là những ghi chú của tác giả về hệ thống đồn điền trong thế kỉ XIX dưới triều Nguyễn và thời gian thuộc Pháp sau này.Deschaseaux nhận định đồn điền thời nhà Nguyễn chủ yếu là đồn điền quân sự, bắt đầu phát triển mạnh với triều Minh Mạng. Mục đích quan trọng của các đồn điền ở Nam Kỳ là để khẳng định chủ quyền và bảo vệ vùng biên giới cực Tây, giáp với Chân Lạp. Bên cạnh đó, đồn điền còn giải quyết vấn đề kinh tế cho hàng vạn binh lính giải ngũ sau chiến tranh với Tây Sơn và những người nông dân xiêu tán trở về không có đất canh tác. Tài liệu này cũng đề cập đến việc thành lập các cơ đồn điền để khẩn hoang lập ấp của Nguyễn Tri Phương thời vua Tự Đức.Deschaseaux cho rằng đồn điền trong thế kỉ XIX phát triển mạnh ở miền Tây Nam Kỳ nên cơ cấu kinh tế xã hội cũng có điều kiện phát triển theo.
Ở Cần Thơ “chưa đầy 20 năm đã thiết lập các chợ trọng yếu là Bình Thuỷ, Cái Răng, Ô Môn và Trà Ôn” [140; tr. Tất cả những hình thức tổ chức đồn điền của nhà Nguyễn ở Nam Kỳ đã bị giải tán hoàn toàn khi Pháp chiếm được Nam Kỳ. Thực dân Pháp thiết lập hệ thống đồn điền mới ở miền Tây Nam Kỳ. Tài liệu này là cơ sở để luận án có điều kiện so sánh những điểm khác nhau của kinh tế đồn điền do Pháp tiến hành và hệ thống đồn điền thời Nguyễn.
9 Đầu thế kỉ XX, nhiều công trình địa phương chí của các tỉnh miền Tây Nam Kỳ bằng tiếng Pháp lần lượt xuất bản. Từ năm 1901 đến năm 1911, Hội nghiên cứu Đông Dương (Société des études Indochinoises) chủ trương và thực hiện dự án Địa lý học: Tự nhiên, Kinh tế và Lịch sử Nam Kỳ (Géographie Physique, Économique ét Historique de la Cochinchine). Công trình được xuất bản thành từng tập sách nhỏ cho từng tỉnh, không mang tên tác giả, chỉ ghi là Ấn phẩm của Hội nghiên cứu Đông Dương (Publications de la société des études Indo–Chinoises). Dự án này đã thực hiện được ở 14 tỉnh Nam Kỳ, trong đó ở khu vực miền Tây Nam Kỳ có 5 chuyên khảo về các tỉnh Hà Tiên (1901), Châu Đốc (1902), Cần Thơ (1904), Sóc Trăng (1904), Long Xuyên (1905).
Năm 1906, có thêm một quyển chuyên khảo về đảo Phú Quốc (thuộc tỉnh Hà Tiên). Nội dung của các công trình này chủ yếu là những thông tin ngắn gọn về mặt số liệu trên các lĩnh vực địa lý tự nhiên, địa lý kinh tế, lịch sử và chính trị, văn hoá. Những số liệu được thống kê cẩn thận và khá đầy đủ, tuy nhiên vẫn còn một số sai sót về chi tiết trong các sự kiện lịch sử. Các chuyên khảo này mang tính chất khái quát ban đầu về các tỉnh miền Tây Nam Kỳ trong những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.
Trên cơ sở đó, tác giả có sự định hướng và thực hiện tìm kiếm những tư liệu, tài liệu tham khảo liên quan đến luận án. Bên cạnh các ấn phẩm định kì, tư liệu trong các cơ quan của chính quyền thuộc địa, các công trình địa phương chí bằng tiếng Pháp, nhiều công trình nghiên cứu quan trọng của các tổ chức, các tác giả người Pháp về kinh tế Đông Dương và Nam Kỳ cũng đã được công bố. Năm 1911, công trình nghiên cứu Paddys et Riz de Cochinchine (Lúa gạo ở Nam Kỳ) của Albert Coquerel được xuất bản ở Lyon, Pháp. Một nội dung quan trọng của quyển sách này là Albert Coquerel đã thống kê cụ thể tên các giống lúa được trồng ở Nam Kỳ.
Theo tác giả, có 166 giống lúa sớm, 195 giống lúa mùa, 87 giống lúa muộn, 51 giống lúa 3 đến 4 tháng và 16 giống lúa nổi [138; tr. Phương thức hoạt động của nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa ở 10 Nam Kỳ và việc xuất khẩu lúa gạo qua cảng Sài Gòn cũng được tác giả đề cập đến. Công trình là cơ sở để luận án kế thừa khi nghiên cứu về các giống lúa được trồng, những cải tiến kỹ thuật, lai tạo giống lúa ở miền Tây Nam Kỳ. Năm 1931, Henri Russier xuất bản công trình Indochine Française (Xứ Đông Dương thuộc Pháp).
Quyển sách trình bày nhiều vấn đề của các xứ Đông Dương trên các lĩnh vực điều kiện tự nhiên, chính trị, văn hoá, kinh tế xã hội. Vấn đề kinh tế của Đông Dương được tác giả quan tâm đặc biệt. Riêng Nam Kỳ thuộc Pháp, tác giả đã dành nhiều trang viết để phân tích các mặt của kinh tế nông nghiệp. Henri Russier khẳng định miền Tây Nam Kỳ là khu vực rất quan trọng đối với kinh tế nông nghiệp trồng lúa.
Tác giả cũng đề cập đến các giống lúa được trồng ở Nam Kỳ. Những giống lúa khác nhau được trồng trên những khu vực có địa hình khác nhau như ruộng cao, ruộng trũng, ruộng ngập nước. Tài liệu này đã giúp cho luận án có thêm những đánh giá, số liệu, hình ảnh. về kinh tế đồn điền ở miền Tây Nam Kỳ trong giai đoạn 1900 – 1945.
Năm 1931, tổ chức Exposition coloniale internationale (Triển lãm thuộc địa quốc tế) đã xuất bản công trình nghiên cứu La Cochinchine (Xứ Nam Kỳ) ở Paris với độ dài hơn 300 trang. Đây là quyển sách tập hợp nhiều bài viết của nhiều tác giả viết về xứ Nam Kỳ trong những năm đầu của thế kỉ XX. Công trình nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, xã hội, kinh tế, con người, văn hoá. Kinh tế nông nghiệp đã được quan tâm, phân tích khá kỹ trong quyển sách.
Chẳng hạn, việc so sánh năng suất, thời gian trồng lúa ở miền Đông Nam Kỳ và miền Tây Nam Kỳ. Quyển sách cũng đề cập đến nhiều loại gạo được trồng ở nhiều địa phương nhưng nhận định khi mua bán người ta chỉ chia thành hai loại cơ bản là gạo hạt dài của vùng Bạc Liêu và gạo hạt tròn của vùng Gò Công. Tài liệu này đã trình bày đầy đủ, chi tiết quá trình canh tác lúa ở miền Tây Nam Kỳ trong một mùa vụ. Có rất nhiều khâu trong quá trình này như làm đất, gieo mạ, cấy lúa, bón phân, thu hoạch.
Tài liệu này đã giúp luận án có những minh chứng về quá 11 trình tổ chức sản xuất, trình độ kỹ thuật, năng suất lúa. trong các đồn điền ở miền Tây Nam Kỳ. Năm 1931, Tổ chức Exposition coloniale internationale tiếp tục công bố công trình Rizicuture en Indochine (Việc trồng lúa ở Đông Dương). Nội dung bàn về vấn đề sở hữu ruộng đất và việc trồng lúa của xứ Đông Dương.
Miền Tây Nam Kỳ được xem là vùng đất có diện tích và năng suất đất trồng lúa tốt nhất trong Liên bang Đông Dương thuộc Pháp. Tài liệu cũng thống kê đầy đủ diện tích trồng lúa ở các tỉnh Nam Kỳ năm 1931. Việc chế biến, xay xát lúa gạo và việc xuất khẩu các mặt hàng từ lúa gạo qua cảng Sài Gòn cũng được đề cập đến. Qua công trình này, luận án có được những số liệu về diện tích đất trồng lúa, những số liệu về việc xuất khẩu lúa gạo qua cảng Sài Gòn.
Tài liệu còn giúp cho luận án có cơ sở trong việc đánh giá vai trò kinh tế của miền Tây Nam Kỳ so với các khu vực khác ở Đông Dương. Quyển sách Kinh tế nông nghiệp Đông Dương của Y.Henry xuất bản năm 1932, Hoàng Đình Bình chuyển ngữ sang tiếng Việt. Trong công trình này, Y.Henry đã nghiên cứu một cách có hệ thống về kinh tế nông nghiệp của Liên bang Đông Dương thời thuộc địa. Trong đó, Nam Kỳ có vai trò quan trọng nhất về kinh tế, nơi xuất khẩu lúa gạo quan trọng nhất đối với thực dân Pháp.
Tác giả dành nhiều trang sách viết về nhân công, tá điền, điền chủ. Trong đó nhân công làm việc trong đồn điền là một lực lượng quan trọng đối với tư sản Pháp. Tác giả thống kê đến năm 1900, ở Nam Kỳ diện tích đồn điền cấp nhượng là 14.301 ha, tất cả hoạt động khai thác hoàn toàn là trồng lúa. Diện tích đất đồn điền tăng lên nhanh chóng trong vòng 30 năm.
Đây là một tài liệu quý, được trình bày một cách có hệ thống về kinh tế nông nghiệp ở Đông Dương. Các vấn đề về sở hữu ruộng đất, sử dụng nhân công, hoạt động kinh tế, tín dụng, tình hình giai cấp. được nghiên cứu một cách cụ thể, rõ ràng. Tuy nhiên, các số liệu cũng chỉ được công bố giới hạn trong một năm cụ thể (1930), không có sự so sánh để thấy được sự chuyển biến trong kinh tế nông nghiệp ở Đông Dương cũng như ở miền Tây 12 Nam Kỳ.
Tài liệu này đã giúp tác giả luận án có cái nhìn tổng thể về kinh tế nông nghiệp, các số liệu, biểu bảng là những minh chứng quan trọng trong những hoạt động liên quan đến kinh tế đồn điền ở miền Tây Nam Kỳ từ năm 1900 đến năm 1945. Công trình nghiên cứu của André Hibon, La crise économique en Indochine (Cuộc khủng hoảng kinh tế ở Đông Dương), xuất bản năm 1934 tại Paris. Công trình này đã trình bày khái quát về nền kinh tế Đông Dương từ khi Paul Doumer sang làm toàn quyền đến khi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1933) kết thúc. Tác giả đánh giá, cuộc khủng hoảng kinh tế ở Đông Dương rất trầm trọng.
Đối với khu vực miền Tây Nam Kỳ, hoạt động trong các đồn điền của người Pháp và người Việt bị ngưng trệ. Việc mắc nợ, cầm cố đất đai để vay tiền của các đại điền chủ ở miền Tây Nam Kỳ diễn ra với quy mô lớn. Tài liệu đã giúp luận án những nhận định về sự phát triển, sự khủng hoảng của hệ thống đồn điền ở miền Tây Nam Kỳ nửa đầu thế kỉ XX.