Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Trong đó, phần nội dung của luận văn được kết cấu thành 2 chương, 4 tiết và 12 tiểu tiết. 14 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH VẤN ĐỀ CON NGƢỜI TRONG TƢ TƢỞNG CỦA NGÔ THÌ NHẬM 1. KHÁI QUÁT NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI, VĂN HÓA, GIÁO DỤC VIỆT NAM THẾ KỶ XVII – XVIII CHO SỰ HÌNH THÀNH VẤN ĐỀ CON NGƢỜI TRONG TƢ TƢỞNG CỦA NGÔ THÌ NHẬM Trong Hệ tư tưởng Đức, khi trình bày những quan niệm lý luận, C.Ăngghen đã đưa ra những quan điểm có tính chất phương pháp luận quan trọng của chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Phê phán việc các nhà triết học duy tâm trước đây coi sự phát triển của giới tự nhiên, con người và các điều kiện xã hội bắt nguồn từ sự phát triển của tinh thần, của ý niệm tuyệt đối… C.Ăngghen chỉ ra rằng, phải lấy tự nhiên, vật chất để giải thích tinh thần, bởi vì “ý thức không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tại được ý thức, và tồn tại của con người là quá trình đời sống hiện thực của con người” (C.37) và “không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quyết định ý thức” (C. Theo các ông, sự khác nhau về chất giữa quan niệm duy tâm về lịch sử với quan niệm duy vật về lịch sử chính là ở chỗ quan niệm duy vật về lịch sử đã chỉ rõ rằng, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội. Khi tồn tại xã hội biến đổi mà nhất là phương thức sản xuất biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hội, những quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa, khoa học, nghệ thuật. sớm hay muộn cũng sẽ biến đổi theo.
Trong những thời đại lịch sử khác nhau, những quan điểm, tư tưởng xã hội sẽ khác nhau, đó là do điều kiện khác nhau của đời sống vật chất quyết định nên. Điều đó có nghĩa: chúng ta không thể đi tìm nguồn gốc của ý thức, của tư tưởng trong chính bản thân của nó mà phải lý 15 giải từ hiện thực khách quan của đời sống xã hội đó. Do vậy, việc xem xét vấn đề con người trong tư tưởng của Ngô Thì Nhậm cũng cần được đặt trong bối cảnh của những chuyển biến xã hội thế kỷ XVII – XVIII để thấy được dấu ấn của thời đại trong tư tưởng của ông. Điều kiện kinh tế Việt Nam thế kỷ XVII – XVIII với sự hình thành vấn đề con ngƣời trong tƣ tƣởng của Ngô Thì Nhậm Sau cuộc nội chiến giữa các thế lực phong kiến nổ ra nhằm tranh giành quyền lực kéo dài suốt thế kỷ XVII, đến thế kỷ XVIII, xã hội tạm ổn định trong tình trạng đất nước bị chia cắt thành Đàng Ngoài – Đàng Trong.
Đàng Ngoài Về kinh tế nông nghiệp, tình trạng tư hữu hóa ruộng đất càng nhiều, các quan lại, địa chủ nắm giữ phần lớn ruộng tư. Họ thường ép giá những người dân nghèo khổ phải bán ruộng đất để thôn tính đất đai. Một bộ phận địa chủ có trên 100 mẫu ruộng, nhiều người có trên 1000 mẫu, hình thành một số trang trại của các nhà quyền thế, phú hào. Chúa Trịnh ban hành phép quân điền mới, ra lệnh cấm quan lại có ruộng đất hay tự tiện làm trang trại, trong v ng ba tháng phải triệt phá đi nếu không sẽ bị luận tội theo pháp luật.
Hình thức sở hữu ruộng đất tập trung bị xóa bỏ. Triều đình Lê – Trịnh rất chú trọng vấn đề thủy lợi. Khi thời tiết hạn hán, triều đình cử quan xuống các đạo xem xét và sai làm xe tát nước để chống hạn. Việc tuần tra, sửa chữa đê điều cũng được thực hiện thường xuyên.
Thế nhưng sự quan tâm của chính quyền Lê – Trịnh không mang lại kết quả bởi vì sự khắc nghiệt của chiến tranh, sự chiếm đoạt ruộng đất của quan lại cộng với thiên tai hoành hành khiến việc phát triển nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Vì thiếu đất đai, người dân vô cùng khốn khổ. Để đảm bảo cuộc sống, họ phải ra sức khai hoang, phục hóa đất đai, mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp. Người nông dân phải xen canh tăng vụ, tận dụng tối đa mảnh đất, mỗi năm thường thu hoạch từ hai đến ba vụ.
Việc khai hoang 16 đã mở thêm nhiều diện tích canh tác ở vùng Sơn Nam, vùng trung du Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Kỹ thuật sản xuất nông nghiệp ở đồng bằng đạt trình độ khá cao, phương pháp cày cấy chủ yếu dựa vào sức người, nông cụ giản đơn như liềm, cuốc, cày, bừa, hái. Người nông dân đã cải tạo được nhiều giống lúa phù hợp với từng loại đất, đây được xem là bước tiến mới trong kỹ thuật canh tác đất đai. Nghề trồng lúa đã có bước phát triển mới khi sở hữu 64 giống lúa các loại, trong đó có 27 giống lúa mùa, 8 giống lúa chiêm, 29 giống lúa nếp và nhiều giống lúa ngắn ngày.
Trình độ thâm canh của nông dân khá cao. Giá trị nông sản tạo ra trên 1 khoảnh ruộng là hơn 200 quan. Việc trồng rau, trồng cây ăn quả rất phổ biến, có đến 7 loại cam, 9 giống chuối và nhiều loại vải, quýt, nhãn, chanh… Nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp được đúc kết và truyền tụng, tuy nhiên do khoa học kỹ thuật không được quan tâm nên người nông dân không có điều kiện nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng. Tình trạng lũ lụt, hạn hán xảy ra thường xuyên; sự bóc lột, nhũng nhiễu của địa chủ và quan lại hà khắc làm cho tình trạng thiếu đói xảy ra triền miên.
Về thủ công nghiệp, tình hình thủ công nghiệp đã có những biến đổi lớn do sự tác động của khoa học kỹ thuật phương Tây du nhập Việt Nam. Không chỉ phát triển về quy mô, thủ công nghiệp Đàng Ngoài c n xuất hiện nhiều ngành nghề mới. Chính quyền Lê – Trịnh tiếp tục duy trì các công xưởng và quan xưởng như thời nhà Lý. Đây là loại hình sản xuất các vật dụng phục vụ sinh hoạt của triều đình và các loại vũ khí phục vụ chiến tranh.
Các đơn vị thủ công nghiệp nhà nước gọi là Tượng cục, làm việc trong đó là những người thợ có trình độ cao và được trưng dụng. Ngoài những nghề truyền thống nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt c n có những ngành nghề phục vụ mục đích quân sự, chính trị như đóng tàu, đúc súng đạn. Ngành khai thác mỏ trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần tạo nguồn thuế lớn cho triều đình. 17 Về thương nghiệp, nhìn chung cả nội thương và ngoại thương đều không phồn thịnh như trước.
Với nội thương, ngày càng có nhiều thứ thuế, ban đầu chỉ có 400 loại, sau tăng lên hàng vạn loại thuế. Thuế ngày càng nặng, càng nhiều và tệ tham nhũng của quan lại khiến thương nhân phải nợ thuế. Thuế chợ trở thành gánh nặng cho các tiểu thương. Vì sự tham nhũng của quan lại, nhiều chợ đã phải chạy chọt để xin thành chợ chùa nhằm tránh thuế.
Với ngoại thương, vào thời kỳ đầu chính quyền Lê – Trịnh rất cởi mở giao thương với nước ngoài, nhưng từ thế kỷ XVIII, thuyền buôn nước ngoài đến thưa dần. Sau thời kỳ hưng khởi, sự hạn chế trong chính sách ngoại thương của những người cầm quyền, những quy định phiền hà và những thủ tục đánh thuế tùy tiện, phân biệt thuyền phương Đông và phương Tây đã làm cho ngoại thương Đại Việt suy tàn. Đàng Trong Về kinh tế nông nghiệp, ruộng đất là vấn đề hàng đầu đối với sự phát triển nông nghiệp, ruộng đất ở các xã được phân chia theo lệ làng, mỗi xã dân được chia 5 – 6 sào ruộng, binh lính được khẩu phần gấp ba lần. Ruộng đất tư được gọi là bản bức tư điền.
Các chúa Nguyễn đưa ra các chính sách kích thích sự phát triển ruộng tư, các đầm, đất thổ nhưỡng chiêm trũng, vùng nhiễm mặn, rừng rú đều được cải tạo thành các làng xã mới. Ruộng đất tư ở vùng Thuận Quảng phân tán, chủ yếu là loại vừa và nhỏ. Chính sách cho phép các nhà giàu mộ dân phiêu tán vào Nam khai phá đất mới đã tạo điều kiện hình thành bộ phận tư hữu ruộng đất. Ở vùng Nam Bộ ruộng đất mới được khai phá, tạo điều kiện hình thành tầng địa chủ sở hữu hàng trăm mẫu ruộng đất.
Thời kỳ đầu, chúa Nguyễn chưa nắm rõ số ruộng đất nên thuế khóa c n nhẹ, đời sống nông dân từng bước ổn định, tuy nhiên, về sau, chúa Nguyễn bắt đầu ban hành phép thu thuế. Phép thu thuế Đàng Trong không quá nặng nhưng các quan lại trông coi việc thu thuế quá nhiều, gây ra tình 18 trạng nhũng nhiễu nhân dân. Việc truy xét và rà soát thuế quá cồng kềnh, tệ tham nhũng xảy ra thường xuyên làm cho đời sống nhân dân càng trở nên khổ cực. Tiến trình sản xuất nông nghiệp gặp nhiều thuận lợi hơn Đàng Ngoài, do Nam Bộ vẫn c n là một vùng đất hoang.
Từ khi khai phá, chúa Nguyễn đã đưa ra nhiều chính sách quan tâm đến nông nghiệp, hàng loạt con sông và kênh được đào vét ở Thuận Quảng, điển hình như kênh Trung Đan và Mai Xá. Sang thế kỷ XVIII, những vùng đất hoang vu ở Nam Bộ đã trở thành ruộng phì nhiêu, ruộng tốt bậc nhất Đại Việt. Nghề nông đã tạo ra 26 giống lúa nếp và 23 giống lúa tẻ. Người nông dân trồng các cây lương thực như khoai, ngô, hạt bo bo (tức ý dĩ), vừng (gọi là mè); các loại cây ăn quả như mãng cầu (na), mít, xoài, chuối và các loại rau.
Mỗi vùng đều có đặc sản riêng như: bí và dưa bở ở Bà Rịa, khoai lang và ngô ở Biên H a; lạc ở Gia Định, xoài ở Bình Định; hồ tiêu ở Hà Tiên; mía ở Bình Thuận và Quảng Nam; măng cụt ở Vĩnh Long và Biên H a; dâu ở Thuận Hóa và Quảng Nam; bông ở Quảng Ngãi; quế ở Quy Nhơn, Thăng Hoa và Điện Bàn. Về thủ công nghiệp, ở Đàng Trong về cơ bản cũng có những nét tương đồng so với Đàng Ngoài. Sự du nhập của khoa học kỹ thuật phương Tây góp phần thúc đẩy phát triển thủ công nghiệp Đàng Trong không chỉ về quy mô mà c n góp phần làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới như đóng tàu, thuyền, đúc súng, khai thác mỏ. Trong ngành khai thác mỏ, Đàng Trong không có nhiều tài nguyên khoáng sản như Đàng Ngoài, chỉ có một số mỏ sắt và mỏ vàng.