Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA THẨM PHÁN TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm vị trí, vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự 1. Khái niệm Thẩm phán Quá trình tố tụng hình sự được chia thành nhiều giai đoạn khác nhau, với nhiều cơ quan tiến hành tố tụng khác nhau mà trong đó vị trí, vai trò của mỗi cơ quan là khác nhau. Mỗi cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện quyền hạn và trách nhiệm thông qua các chủ thể gọi là những người tiến hành tố tụng.
Toà án nhân dân là một trong những cơ quan tiến hành tố tụng có vị trí vai trò quan trọng, là cơ quan cuối cùng kết thúc một quá trình tố tụng. Trong Toà án nhân dân, Thẩm phán là người có vị trí và vai trò then chốt để thực thi nhiệm vụ tố tụng của Toà án. Xét xử đã có từ rất lâu, nhưng sự ra đời của Thẩm phán lại muộn hơn. Dưới thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến hình thức Nhà nước chủ yếu là quân chủ lập hiến, hoạt động xét xử cũng như hoạt động lập pháp, hoạt động hành pháp đều tập trung vào giai cấp chủ nô và phong kiến mà đại diện là nhà vua.
Nhà vua là người nắm toàn bộ quyền hành, đứng đầu Nhà nước ban hành các đạo luật, quy định tổ chức thực hiện và là người có quyền lực cao nhất. Đến thế kỷ XVII, XVIII giai cấp tư sản phát triển mạnh mẽ đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến đã hạn chế dần quyền lực của nhà vua, tiến tới xoá bỏ Nhà nước phong kiến. Trong thời gian này, các học giả tư sản mà tiêu biểu nhất là Montesquieu trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” đã đưa ra luận điểm: Phải tách các hoạt động ban hành pháp luật, hoạt động thực hiện pháp luật và hoạt động xét xử, chia quyền lực nhà nước thành ba loại quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau tạo cơ chế kiềm chế đối trọng lẫn nhau, chống lại tư tưởng độc quyền của một người, hay của một cơ quan nào đó, nắm toàn bộ quyền lực Nhà 7 nước. Có thể nói sự tách bạch và độc lập giữa Toà án ra khỏi hai nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp đã hình thành nên một đội ngũ cán bộ mới trong bộ máy nhà nước làm nhiệm vụ xét xử từ xưa đến nay chưa từng có đó là Thẩm phán [28, tr.
Trong Luận án tiến sĩ Luật học của mình, theo tác giả Đỗ Gia Thư “Thẩm phán là người làm việc trong cơ quan Toà án, chuyên xét xử các vụ án và giải quyết các vụ việc theo thẩm quyền của Toà án, ra các bản án, quyết định nhân danh Nhà nước” [28, tr. Tại Điều 1 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 đã đưa ra khái niệm “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án” [tr. Theo khái niệm này thì Thẩm phán là một chức danh quan trọng được bổ nhiệm theo thủ tục do pháp luật quy định. Tức là chế độ bổ nhiệm Thẩm phán được thực hiện đối với Toà án các cấp.
Việc bổ nhiệm Thẩm phán phải do người có thẩm quyền bổ nhiệm, tương ứng với ba cấp Toà án có ba ngạch Thẩm phán và thẩm quyền bổ nhiệm với các ngạch Thẩm phán này cũng khác nhau. Để được bổ nhiệm làm Thẩm phán thì cán bộ Toà án phải đáp ứng những tiêu chuẩn về bổ nhiệm Thẩm phán do pháp luật quy định. Ngoài ra, Thẩm phán còn được coi là công chức Nhà nước. Theo pháp luật về cán bộ công chức hiện hành, Thẩm phán được xếp vào ngạch công chức nhà nước được hưởng mọi quyền lợi, nghĩa vụ và chế độ của công chức nói chung.
Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự Thẩm phán có vị trí, vai trò đặc biệt trong xét xử các vụ án hình sự. Thẩm phán là người điều khiển phiên toà theo quy định của pháp luật. Lên kế hoạch cho các phiên toà như: Những chứng cứ nào sẽ được sử dụng, nhân 8 chứng nào sẽ được triệu tập, thời gian nào thì sẽ đưa vụ án ra xét xử… và dự liệu được những vấn đề có thể xảy ra tại phiên toà. Trong phần thẩm vấn pháp luật không quy định cụ thể phải hỏi ai, hỏi vấn đề gì trước nên gần như quy trình xét hỏi được quyết định bởi Thẩm phán Chủ toạ phiên toà và là người điều khiển phiên toà, thấy cần hỏi ai trước, cần làm rõ cái gì trước, xem xét và trình bày cái gì là hợp lý để đảm bảo kết quả, chất lượng xét xử tốt nhất và không làm cho các sự kiện bị rối lên, đồng thời cũng quyết định luôn tình tiết nội dung nào cần được hỏi.
Mặc dù người hỏi gồm có cả Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên và Luật sư nhưng thực tiễn xét xử tại Việt Nam cho thấy việc xét hỏi được tiến hành chủ yếu bởi Thẩm phán Chủ toạ phiên toà, sự tham gia xét hỏi của Luật sư, Kiểm sát viên trong quá trình xét hỏi không mang tính liên tục tất cả những điều đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng xét xử. Chất lượng xét xử có cao hay không phụ thuộc phần lớn vào người Thẩm phán, phụ thuộc vào chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng điều khiển phiên toà, kinh nghiệm tích luỹ trong quá trình công tác. Vì sao lại hỏi bị cáo này trước mà không hỏi bị cáo kia trước, vật chứng nào, nhân chứng nào, những tình tiết nào trong vụ án có ý nghĩa quyết định đến việc bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì được qui định tại điều khoản nào trong BLHS. Tất cả những vấn đề trên đòi hỏi người Thẩm phán phải có kiến thức pháp luật sâu rộng, phải có kinh nghiệm tích luỹ nhiêu năm trong quá trình xét xử các vụ án thì mới có thể làm tốt vị trí, vai trò của mình được.
Khác với công việc khác, để đưa ra được một phán quyết thấu tình đạt lý, Thẩm phán phải huy động nhiều tố chất trong một con người. Đó là sự am hiểu về pháp luật, sự am hiểu về kiến thức thực tế, tích luỹ kiến thức về xã hội, lương tâm của người Thẩm phán. Cơ sở của các phán quyết là pháp luật, những kết quả của các phán quyết có công bằng, vô tư và khách quan hay không đòi hỏi mỗi Thẩm phán phải có cái tâm trong sáng, chỉ khi nào có sự kết hợp giữa trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán thì lúc đó mới đảm bảo cho phán quyết của Thẩm phán thấu tình 9 đạt lý. Khi xét xử người Thẩm phán phải có niềm tin nội tâm, đó là niềm tin vào công lý bởi vì cho dù hệ thống pháp luật có hoàn chỉnh đầy đủ đến đâu chăng nữa thì cũng sẽ không bao giờ dự liệu hết được mọi tình huống xảy ra trong thực tế.
Thậm chí quy định của pháp luật còn chồng chéo, không đồng bộ, song khi xét xử người Thẩm phán vẫn phải đảm bảo nguyên tắc xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đặc biệt là phải đảm bảo công lý. Trong con mắt của người dân, Toà án không chỉ là bảo vệ pháp luật mà còn là biểu tượng của công lý, sự công bằng xã hội. Khi phải đối mặt với quan toà, với công đường người dân chờ đợi sự công minh, sáng suốt. Toà án là người đại diện của công lý và quan toà là người thực thi công lý.
Chức năng của Toà án là xét xử và Thẩm phán là người thực hiện chức năng đó. Chức năng xét xử của Thẩm phán được thực hiện thông qua quyền hạn, trách nhiệm được pháp luật quy định. Pháp luật đã quy định quyền hạn và trách nhiệm cho Thẩm phán trong các văn bản quy phạm như: Luật tổ chức Toà án nhân dân, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân, Bộ luật Tố tụng hình sự… Các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán là cơ sở pháp lý quan trọng đảm bảo cho Thẩm phán thực hiện tốt chức năng xét xử của mình. Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ xét xử Thẩm phán chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình.
Thẩm phán thực hiện quyền lực công, các phán quyết của Thẩm phán nhân danh Nhà nước, nhân danh công lý, đồng thời các phán quyết đó còn ảnh hưởng đến sinh mạng chính trị của con người, quyền và lợi ích hợp pháp của từng cá nhân. Do đó, yêu cầu của hoạt động xét xử là phải đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đối với quyền hạn và nghĩa vụ của Thẩm phán được quy định tại điều 9, điều 10, điều 11, điều 12 điều 15 điều 16 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân năm 2002 đã quy định cụ thể như sau: 10 - Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án theo sự phân công của Chánh án toà án nơi mình công tác hoặc Toà án nơi mình được biệt phái đến làm nhiệm vụ có thời hạn. - Thẩm phán có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thi hành những quyết định có liên quan đến việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác theo quy định của pháp luật.
Thẩm phán không được làm những việc sau đây: * Những việc mà pháp luật quy định cán bộ, công chức không được làm * Tư vấn cho bị can, bị cáo đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác không đúng quy định của pháp luật. * Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ án. * Đem hồ sơ vụ án hoặc tài liệu trong hồ sơ vụ án ra khỏi cơ quan, nếu không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được đồng ý của người có thẩm quyền. * Tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong vụ án mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định.
- Thẩm phản phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi trong các trường hợp do pháp luật tố tụng quy định.