Luận án phó tiến sĩ kinh tế chính trị vai trò quản lý nhà nước trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở việt nam

Luận án phân tích vai trò quản lý nhà nước trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường tại Việt Nam, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

1996

164
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1. Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường

1.1.1. Sự tiến triển các quan niệm lý thuyết

1.1.2. Thị trường và Nhà nước trong nền kinh tế hiện đại

1.1.3. Sự biểu hiện của vai trò Nhà nước trong các mô hình kinh tế thị trường hiện đại

1.2. Tính đặc thù trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam và vai trò của Nhà nước

1.2.1. Bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

1.2.2. Sự tác động của bối cảnh đến vai trò của Nhà nước trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

1.3. Vai trò kinh tế của Nhà nước trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

1.3.1. Cải cách kinh tế ở Việt Nam dưới góc độ là tiến trình chính sách

1.3.1.1. Giai đoạn từ 1975 - 1986
1.3.1.2. Giai đoạn sau năm 1986

1.3.2. Vai trò của Nhà nước trong quá trình hình thành các chủ thể kinh tế thị trường và tự do hóa giá cả

1.3.2.1. Hình thành các chủ thể kinh tế thị trường
1.3.2.2. Tự do hóa thị trường và giá cả

1.3.3. Vai trò của Nhà nước trong việc ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế

1.3.3.1. Ổn định kinh tế vĩ mô
1.3.3.2. Chính sách tăng trưởng

1.3.4. Vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng hành lang pháp lý và kết cấu hạ tầng kỹ thuật

1.3.4.1. Xây dựng hành lang pháp lý
1.3.4.2. Xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật

2. CHƯƠNG II: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU LỰC QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

2.1. Hoàn thiện các chức năng, công cụ quản lý của Nhà nước phù hợp với tiến trình kinh tế thị trường

2.1.1. Hoàn thiện các chức năng quản lý của Nhà nước về kinh tế

2.1.2. Hoàn thiện các công cụ điều tiết kinh tế của Nhà nước

2.2. Chấn chỉnh tổ chức bộ máy quản lý nhà nước và xây dựng đội ngũ công chức

2.2.1. Chấn chỉnh tổ chức bộ máy nhà nước

2.2.2. Làm trong sạch bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế

2.2.3. Xây dựng đội ngũ công chức nhà nước

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường

Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường được xác định là yếu tố then chốt trong việc điều tiết và thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Theo quan điểm Mácxít, Nhà nước không chỉ là người điều hành mà còn là người tạo lập các điều kiện cần thiết để nền kinh tế vận hành hiệu quả. Trong bối cảnh chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam, Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hành lang pháp lýkết cấu hạ tầng, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.

1.1. Sự tiến triển các quan điểm lý thuyết

Các quan điểm lý thuyết về vai trò của Nhà nước trong kinh tế thị trường đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Từ thời kỳ kinh tế trọng thương, Nhà nước được coi là người điều tiết chính trong việc thúc đẩy thương mại và tích lũy của cải. Đến thời kỳ kinh tế tự do cạnh tranh, quan điểm của Adam Smith cho rằng thị trường có khả năng tự điều chỉnh, nhưng vẫn cần sự can thiệp của Nhà nước trong một số lĩnh vực như pháp luật và thuế. Cuối cùng, lý thuyết Keynes nhấn mạnh sự cần thiết của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế để tránh khủng hoảng và thất nghiệp.

1.2. Tính đặc thù trong quá trình chuyển đổi tại Việt Nam

Quá trình chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường có nhiều điểm đặc thù. Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo lập các chủ thể kinh tế thị trườngtự do hóa giá cả. Đồng thời, Nhà nước cũng thực hiện các chính sách nhằm ổn định kinh tế vĩ môthúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Sự can thiệp của Nhà nước trong giai đoạn này là cần thiết để đảm bảo sự chuyển đổi diễn ra một cách hiệu quả và bền vững.

II. Cải cách kinh tế và vai trò của Nhà nước

Cải cách kinh tế tại Việt Nam được thực hiện qua hai giai đoạn chính: từ năm 1975 đến 1986 và sau năm 1986. Trong giai đoạn đầu, Nhà nước tập trung vào việc xây dựng nền tảng cho kinh tế thị trường thông qua các chính sách đổi mới kinh tế. Giai đoạn sau, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện các chính sách quản lýđiều tiết thị trường, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệpđầu tư.

2.1. Giai đoạn từ 1975 1986

Trong giai đoạn này, Nhà nước thực hiện các chính sách nhằm chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường. Các chính sách đổi mới kinh tế được triển khai nhằm tạo lập các chủ thể kinh tế thị trườngtự do hóa giá cả. Tuy nhiên, quá trình này còn nhiều hạn chế do thiếu kinh nghiệm và sự thiếu đồng bộ trong các chính sách.

2.2. Giai đoạn sau năm 1986

Sau năm 1986, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện các chính sách kinh tếquản lý nhà nước trong kinh tế thị trường. Các chính sách đầu tưhỗ trợ doanh nghiệp được triển khai mạnh mẽ, tạo điều kiện cho sự phát triển của kinh tế thị trường. Đồng thời, Nhà nước cũng thực hiện các biện pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ môthúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

III. Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý

Để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước trong kinh tế thị trường, cần hoàn thiện các chức năng quản lýcông cụ điều tiết kinh tế. Đồng thời, cần chấn chỉnh tổ chức bộ máy nhà nước và xây dựng đội ngũ công chức có năng lực. Các giải pháp này nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của kinh tế thị trường tại Việt Nam.

3.1. Hoàn thiện chức năng quản lý

Việc hoàn thiện các chức năng quản lý của Nhà nước là cần thiết để đảm bảo sự vận hành hiệu quả của kinh tế thị trường. Các chức năng này bao gồm việc xây dựng hành lang pháp lý, điều tiết thị trường, và hỗ trợ doanh nghiệp. Đồng thời, Nhà nước cần tăng cường các biện pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ môthúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

3.2. Chấn chỉnh tổ chức bộ máy nhà nước

Chấn chỉnh tổ chức bộ máy nhà nước là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Cần xây dựng đội ngũ công chức có năng lực và đạo đức, đồng thời tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động quản lý nhà nước. Điều này sẽ góp phần tạo nên một bộ máy nhà nước hiệu quả và trong sạch.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TIẾT 1: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Sự tiến triển các quan điểm lý (huyết Theo quan điểm Mácxít , nhà nước không phải là một hiện tượng vĩnh cửu, bất biến. Nhà nước là một phạm trù lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong. Nhà nước sinh ra là nhằm thực hiện chức nang xã hội chung - chức năng "một người nhạc trưởng” đứng ra điều hành, phối hợp toàn bộ nền sản xuất xã hội.

Song sự điều hành của nhà nước nông hay sâu, nhiều hay ít lại tuỳ thuộc vào yêu cầu của nền san xuất xã hội, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sẵn xuất và tính chất của quan hệ sản xuất. Trong các xã hội tiền tư bản (chế độ nô lệ, chế độ phong kiến), nhà nước còn là lực lượng đứng ngoài các quan hệ kinh tế và tác động lên nền kinh tế chủ yếu thông qua các công cụ hành chính cưỡng bức. Trong giai đoạn đầu hình thành chủ nghĩa tr ban (CNTB), nhà nước đóng vai trò "bà do” cho sự ra đời các quan hệ kinh tế tư ban chủ nghĩa (TBCN), là "người gác đêm” giữ gin trật tự chung của xã hội. Nhà nước it can thiệp vào quá trình kinh tế.

Đến giai đoạn độc quyền TBCN, tính chất xã hội hoá của sẵn xuất đạt đến trình độ cao, nhiều quá trình kinh tế vượt ra ngoài tầm khống chế của các nhà tư ban của các tổ chức độc quyền, nền san xuất xã hội vì thế rơi vào tình trạng khủng hoảng, xã hội bất ổn dịnh. Trước tình trạng đó, nhà nước phải can thiệp sâu vào quá trình vận hành của nền kinh tế nhằm khôi phục lại thế cân bang, từ đó mà ổn dinh trat tự xã hội. Học thuyết Mácxít đặc biệt dé cao vai trò của nhà nước trong chủ nghĩa xã hội (CNXII). Trên cơ sở nên sẵn xuất phát triển ở trình độ cao và Š sự thống trị của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nhà nước trở thành một trung tâm điều hành toàn bộ nền sản xuất XHCN, dam bao cho chúng vận hành một cách có kế hoạch và cân đối.

Khác với các nhà lý luận Mácxít, những người tìm căn nguyên sự tăng cường vai trò kinh tế của nhà nước ở các mối quan hệ nội tại của quá trình sản xuất, các học giả tư sản lại tìm nó ở các mối quan hệ kinh tế nổi lên bề mặt của quá trình sẵn xuất trực tiếp, ở các quan hệ thị trường. Sự quan tâm của họ là tìm ra một giới hạn thích hợp về sự can thiệp của nhà nước đối với vận hành nền kinh tế thị trường (KTTT) ở các nước và ở những giai đoạn phát triển khác nhau của mỗi nước, từ đó tìm ra mô hình điều chỉnh hiệu qua cho hoạt động kinh tế của nhà nước. Day là vấn dé luôn luôn được tranh luận. Học thuyết kinh tế trọng thương ra đời trong thời kỳ nền KTTT từng bước hình thành và thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ TBCN diễn ra mạnh.

Học thuyết này đánh giá rất cao vai trò của tiền tệ, coi tiền tệ là tiêu chuẩn cơ bản của của cải và sự giàu có. Mà muốn có nhiều tiền phải thông qua hoại động thương mại, "nội thương là hệ thống ống dẫn, ngoại thương là may bom". Muốn tăng của cai phải mở rộng hoạt động ngoại thương, "xuất siêu là điều kiện cần thiết dam bao sự giàu có của quốc gia". Muốn mở rộng hoạt động ngoại thương, muốn tăng thu xuất siêu thì phải có sự can thiệp của nhà nước.

Học thuyết kinh tế trọng thương cho rằng: Thứ nhất, nhà nước phải đưa ra các chính sách làm tăng khối lượng tiền tệ như hạn chế nhập khẩu; đặt ra hàng rào thuế quan; bat thương nhân nước ngoài đến buôn bán phải mua hết số tiền bán hàng của họ; quy định tỷ giá hối đoái, cẤm đổi cho nước ngoài khối lượng tiên tệ lớn hơn mức quy định của nhà nước. Thứ hai, đẩy mạnh lưu thông hàng hoá, nhằm thu hút khối lượng tiền tệ lớn hon từ nước ngoài, khuyến khích các ngành sản xuất hàng xuAt A khẩu, mở rộng thị trường dân tộc; ưu tiên nhập khẩu những mặt hàng phục vụ cho công nghiệp xuất khẩu. Với sự can thiệp tích cực của Nhà nước, các quốc gia tư bản đã tích luy được ngày càng nhiều của cải tiền tệ và cùng với những tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ vào đâu thế kỷ XVIII đã thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, và do đó của nên KTTT. Đến cuối thể ky XVIII, cùng với sự phát triển của KTTT, lĩnh vực san xuất ngày càng thể hiện vai trò quyết định so với lĩnh vực lưu thông, chủ nghĩa tư bản chuyển dan từ tư ban lưu thông sang tư ban san xuất.

Day cũng là thời kỳ của công trrờng thủ công, và tự do cạnh tranh cũng bat đầu phát triển, là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư ban chủ nghĩa. Kinh tế thị trường của thời kỳ tự do cảnh tranh kéo dài trong lịch sử từ nửa sau của thế ky XVIII tới những năm 30 của thế ky XX. Lý thuyết kinh tế nổi bật nhất, có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của KTTT tự do cạnh tranh là của nhà kinh tế học nổi tiếng ADam Smith (1723 - 1790). Xuất phat từ yếu tố "con người” để phan tích kinh tế, ADam Smith cho rằng thuộc tính vốn có của con người là trao đổi.

Trong quá trình trao đổi san phẩm cho nhau, con người bị chỉ phối bởi lợi ích cá nhân và hành động vì lợi ích cá nhân. Khi con người theo đuổi lợi ích cá nhân, thì có một bàn tay vô hình hướng mọi hoạt động cá nhân vào thực hiện một nhiệm vụ không nằm trong dự kiến của họ là phục vụ lợi ích xã hội. Bàn tay vô hình đó chính là các quy luật khách quan hoạt động tự phát và chỉ phối hoạt động của con người. ADam Smith gọi hệ thống các quy luật khách quan đó là "trật tự tự nhiên”.

Theo ADam Smith, thị trường có kha nang tự cân bang, tự điều chỉnh một cách có lợi nhất cho lợi ích của cá nhân cũng như: lợi ích chung của xã hội; thị trường có kha nang phân phối nguồn lực một cách có hiệu qua. 7 Thị trường thông qua hệ thống giá cả, sẽ hình thành các quyết định sản xuất cải gi?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?. Chính vì những wu thế đó của thị trường, mà theo ADam Smith, chính phủ không cần thiết phải can thiệp vào nên KTTT. Ông cho rằng tổ chức nền kinh tế hàng hoá cần tuân thủ nguyên tắc tự do, và nhà nước "đừng nhúng tay vào.

Dầu nhờn của các lợi ích cá nhân sẽ làm cho bánh xe kinh tế hoạt động mot cách gần như kỳ diệu, thị trường sẽ giải quyết tất cả” {(59), tr 504 ] Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển, thì nguyên tắc "bàn tay vô hình" chi phối hoạt động của nền KTTT khi có đủ 4 điều kiện sau: Thứ nhất: Quyên tư hữu: là quyền hợp pháp của cá nhân hay của cơ sở doanh nghiệp dược sở hữu tài nguyên san xuất. Thứ hai: Quyên tự do kinh doanh: là quyền theo đó người chủ sở hữu các nguồn lực kinh tế có quyền sử dụng chúng theo ý muốn, và có thể tự do trao đổi trên thị trường, không bị khống chế bởi phong tục truyền thống hay quyền lợi của nhà nước Thứ ba: Động cơ lợi nhuận: là mục tiêu của doanh nhân hay doanh nghiệp được sử dụng các nguồn lực thuộc sở hữu của mình sao cho có lợi cho chính mình, được tự do lựa chọn ngành nghề, hình thức kinh doanh vào mục đích sinh lợi. Cạnh tranh: trên thị trường, các chủ thể kinh doanh được tự do cạnh tranh trên cơ sở tiểm lực, kha năng về kinh doanh ma không có sự can thiệp bằng quyền lực của nhà nước. Các đoanh nghiệp được tự do tìm khách hàng, tự do sa thảituyển dụng nhân công vì mục dich của doanh nghiệp.

Tuy coi trọng "bàn tay vô hình" của thị trường, song ADam Smith cũng cho rằng, đôi khi nhà nước cũng có những nhiệm vụ nhất định. Những nhiệm vụ này vượt quá kha năng của một doanh nghiệp như: vấn dé an ninh quốc phòng, xây dựng kết cấu hạ tang, các công trình thuỷ lợi. phát triển cay, con giống. dé ra pháp luật, thu thuế.

Học thuyết kinh tế học cổ điển nói chung và lý thuyết của ADam Smith nói riêng, đã có tác dụng tích cực đối với su phát triển của chủ nghĩa tư bản và của KTTT trong thời kỳ cạnh tranh tự do. Nhưng, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự xuất hiện của độc quyền. lý thuyết này dần dan trở nên không phù hop. Cuộc tổng khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 là biểu hiện sau dam nhất về sự không hoàn hao của thị trường và sự bat lực của “ban tay vô hình”, và cũng là cơ sở thực tiên cho sự ra đời học thuyết kinh tế vẻ sự can thiệp của nhà nước.

Nhà kinh tế học người Anh John Meynard Keynes (188-4 - 1946) da dưa ra lý thuyết nhà nước điều tiết nẻn KTTT trong tác phẩm nồi tiếng của ông: "Ly thuyet chung vẻ việc lam, lợi tức và tiền tẻ”, xuất bản vào nam 1936. Keynes cho rang, chủ nghĩa tư bản phát triển đến mot giai đoạn nhất định, thì cơ che tự điều chỉnh cua thị trường khong du sức dap tat các cuộc khủng hoảng kinh tế, suy thoái và thất nghiệp. Tai hoạ do khủng hoảng và thất nghiệp đồ lèn đầu những người lao động và thúc day ho nổi day lật đồ chủ nghĩa tư bản. Theo Keynes, sở di KTTT tư bản chủ nghĩa diễn ra khủng hoảng, that nghiệp là do các nguyên nhân sau: Thứ nhát.

sự vàn động của nẻn kinh tế tư bản chủ nghĩa chịu sự chi phối của "quy luật tâm lý xã hội cơ bản”. Nội dung của quy luật này là: Sự tang trưởng của nẻn kinh tế làm cho thu nhập tang lẻn. và do đó, mức tiẻu dùng vi the cùng tang lèẻn. nhưng mức do tháp hơn so với mức tang thu nhập.

Kinh té càng phat triển, thì khoang cách đó có xu hướng ngày cảng tang lèn, bởi vì cùng với sự phát triển của kinh te. thì mức do dap ứng nhu cầu cơ bản ngày càng tang lén, cho nén phan thu nhập dung cho chỉ tien se fe) it đi tương đối so với phần tiết kiệm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Vai trò quản lý nhà nước trong chuyển đổi kinh tế thị trường tại Việt Nam" tập trung phân tích sự tham gia của nhà nước trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường. Nó nhấn mạnh vai trò điều tiết, kiểm soát và định hướng của nhà nước để đảm bảo sự phát triển bền vững và công bằng. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về các chính sách, cơ chế quản lý và tác động của chúng đến nền kinh tế Việt Nam, từ đó có cái nhìn toàn diện về quá trình chuyển đổi này.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến việc làm trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở việt nam, nghiên cứu sâu về tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành đến việc làm. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ cơ cấu thu ngân sách nhà nước theo hướng thu ngân sách nhà nước bền vững ở việt nam cung cấp thêm góc nhìn về quản lý tài chính nhà nước. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ kinh tế vai trò của ktnn trong việc quản lý nợ công ở việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của nhà nước trong quản lý nợ công, một yếu tố quan trọng trong nền kinh tế.