Chương I NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TIẾT 1: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 1. Sự tiến triển các quan điểm lý (huyết Theo quan điểm Mácxít , nhà nước không phải là một hiện tượng vĩnh cửu, bất biến. Nhà nước là một phạm trù lịch sử có quá trình phát sinh, phát triển và tiêu vong. Nhà nước sinh ra là nhằm thực hiện chức nang xã hội chung - chức năng "một người nhạc trưởng” đứng ra điều hành, phối hợp toàn bộ nền sản xuất xã hội.
Song sự điều hành của nhà nước nông hay sâu, nhiều hay ít lại tuỳ thuộc vào yêu cầu của nền san xuất xã hội, tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sẵn xuất và tính chất của quan hệ sản xuất. Trong các xã hội tiền tư bản (chế độ nô lệ, chế độ phong kiến), nhà nước còn là lực lượng đứng ngoài các quan hệ kinh tế và tác động lên nền kinh tế chủ yếu thông qua các công cụ hành chính cưỡng bức. Trong giai đoạn đầu hình thành chủ nghĩa tr ban (CNTB), nhà nước đóng vai trò "bà do” cho sự ra đời các quan hệ kinh tế tư ban chủ nghĩa (TBCN), là "người gác đêm” giữ gin trật tự chung của xã hội. Nhà nước it can thiệp vào quá trình kinh tế.
Đến giai đoạn độc quyền TBCN, tính chất xã hội hoá của sẵn xuất đạt đến trình độ cao, nhiều quá trình kinh tế vượt ra ngoài tầm khống chế của các nhà tư ban của các tổ chức độc quyền, nền san xuất xã hội vì thế rơi vào tình trạng khủng hoảng, xã hội bất ổn dịnh. Trước tình trạng đó, nhà nước phải can thiệp sâu vào quá trình vận hành của nền kinh tế nhằm khôi phục lại thế cân bang, từ đó mà ổn dinh trat tự xã hội. Học thuyết Mácxít đặc biệt dé cao vai trò của nhà nước trong chủ nghĩa xã hội (CNXII). Trên cơ sở nên sẵn xuất phát triển ở trình độ cao và Š sự thống trị của chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, nhà nước trở thành một trung tâm điều hành toàn bộ nền sản xuất XHCN, dam bao cho chúng vận hành một cách có kế hoạch và cân đối.
Khác với các nhà lý luận Mácxít, những người tìm căn nguyên sự tăng cường vai trò kinh tế của nhà nước ở các mối quan hệ nội tại của quá trình sản xuất, các học giả tư sản lại tìm nó ở các mối quan hệ kinh tế nổi lên bề mặt của quá trình sẵn xuất trực tiếp, ở các quan hệ thị trường. Sự quan tâm của họ là tìm ra một giới hạn thích hợp về sự can thiệp của nhà nước đối với vận hành nền kinh tế thị trường (KTTT) ở các nước và ở những giai đoạn phát triển khác nhau của mỗi nước, từ đó tìm ra mô hình điều chỉnh hiệu qua cho hoạt động kinh tế của nhà nước. Day là vấn dé luôn luôn được tranh luận. Học thuyết kinh tế trọng thương ra đời trong thời kỳ nền KTTT từng bước hình thành và thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ TBCN diễn ra mạnh.
Học thuyết này đánh giá rất cao vai trò của tiền tệ, coi tiền tệ là tiêu chuẩn cơ bản của của cải và sự giàu có. Mà muốn có nhiều tiền phải thông qua hoại động thương mại, "nội thương là hệ thống ống dẫn, ngoại thương là may bom". Muốn tăng của cai phải mở rộng hoạt động ngoại thương, "xuất siêu là điều kiện cần thiết dam bao sự giàu có của quốc gia". Muốn mở rộng hoạt động ngoại thương, muốn tăng thu xuất siêu thì phải có sự can thiệp của nhà nước.
Học thuyết kinh tế trọng thương cho rằng: Thứ nhất, nhà nước phải đưa ra các chính sách làm tăng khối lượng tiền tệ như hạn chế nhập khẩu; đặt ra hàng rào thuế quan; bat thương nhân nước ngoài đến buôn bán phải mua hết số tiền bán hàng của họ; quy định tỷ giá hối đoái, cẤm đổi cho nước ngoài khối lượng tiên tệ lớn hơn mức quy định của nhà nước. Thứ hai, đẩy mạnh lưu thông hàng hoá, nhằm thu hút khối lượng tiền tệ lớn hon từ nước ngoài, khuyến khích các ngành sản xuất hàng xuAt A khẩu, mở rộng thị trường dân tộc; ưu tiên nhập khẩu những mặt hàng phục vụ cho công nghiệp xuất khẩu. Với sự can thiệp tích cực của Nhà nước, các quốc gia tư bản đã tích luy được ngày càng nhiều của cải tiền tệ và cùng với những tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ vào đâu thế kỷ XVIII đã thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, và do đó của nên KTTT. Đến cuối thể ky XVIII, cùng với sự phát triển của KTTT, lĩnh vực san xuất ngày càng thể hiện vai trò quyết định so với lĩnh vực lưu thông, chủ nghĩa tư bản chuyển dan từ tư ban lưu thông sang tư ban san xuất.
Day cũng là thời kỳ của công trrờng thủ công, và tự do cạnh tranh cũng bat đầu phát triển, là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư ban chủ nghĩa. Kinh tế thị trường của thời kỳ tự do cảnh tranh kéo dài trong lịch sử từ nửa sau của thế ky XVIII tới những năm 30 của thế ky XX. Lý thuyết kinh tế nổi bật nhất, có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển của KTTT tự do cạnh tranh là của nhà kinh tế học nổi tiếng ADam Smith (1723 - 1790). Xuất phat từ yếu tố "con người” để phan tích kinh tế, ADam Smith cho rằng thuộc tính vốn có của con người là trao đổi.
Trong quá trình trao đổi san phẩm cho nhau, con người bị chỉ phối bởi lợi ích cá nhân và hành động vì lợi ích cá nhân. Khi con người theo đuổi lợi ích cá nhân, thì có một bàn tay vô hình hướng mọi hoạt động cá nhân vào thực hiện một nhiệm vụ không nằm trong dự kiến của họ là phục vụ lợi ích xã hội. Bàn tay vô hình đó chính là các quy luật khách quan hoạt động tự phát và chỉ phối hoạt động của con người. ADam Smith gọi hệ thống các quy luật khách quan đó là "trật tự tự nhiên”.
Theo ADam Smith, thị trường có kha nang tự cân bang, tự điều chỉnh một cách có lợi nhất cho lợi ích của cá nhân cũng như: lợi ích chung của xã hội; thị trường có kha nang phân phối nguồn lực một cách có hiệu qua. 7 Thị trường thông qua hệ thống giá cả, sẽ hình thành các quyết định sản xuất cải gi?, sản xuất như thế nào?, sản xuất cho ai?. Chính vì những wu thế đó của thị trường, mà theo ADam Smith, chính phủ không cần thiết phải can thiệp vào nên KTTT. Ông cho rằng tổ chức nền kinh tế hàng hoá cần tuân thủ nguyên tắc tự do, và nhà nước "đừng nhúng tay vào.
Dầu nhờn của các lợi ích cá nhân sẽ làm cho bánh xe kinh tế hoạt động mot cách gần như kỳ diệu, thị trường sẽ giải quyết tất cả” {(59), tr 504 ] Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển, thì nguyên tắc "bàn tay vô hình" chi phối hoạt động của nền KTTT khi có đủ 4 điều kiện sau: Thứ nhất: Quyên tư hữu: là quyền hợp pháp của cá nhân hay của cơ sở doanh nghiệp dược sở hữu tài nguyên san xuất. Thứ hai: Quyên tự do kinh doanh: là quyền theo đó người chủ sở hữu các nguồn lực kinh tế có quyền sử dụng chúng theo ý muốn, và có thể tự do trao đổi trên thị trường, không bị khống chế bởi phong tục truyền thống hay quyền lợi của nhà nước Thứ ba: Động cơ lợi nhuận: là mục tiêu của doanh nhân hay doanh nghiệp được sử dụng các nguồn lực thuộc sở hữu của mình sao cho có lợi cho chính mình, được tự do lựa chọn ngành nghề, hình thức kinh doanh vào mục đích sinh lợi. Cạnh tranh: trên thị trường, các chủ thể kinh doanh được tự do cạnh tranh trên cơ sở tiểm lực, kha năng về kinh doanh ma không có sự can thiệp bằng quyền lực của nhà nước. Các đoanh nghiệp được tự do tìm khách hàng, tự do sa thảituyển dụng nhân công vì mục dich của doanh nghiệp.
Tuy coi trọng "bàn tay vô hình" của thị trường, song ADam Smith cũng cho rằng, đôi khi nhà nước cũng có những nhiệm vụ nhất định. Những nhiệm vụ này vượt quá kha năng của một doanh nghiệp như: vấn dé an ninh quốc phòng, xây dựng kết cấu hạ tang, các công trình thuỷ lợi. phát triển cay, con giống. dé ra pháp luật, thu thuế.
Học thuyết kinh tế học cổ điển nói chung và lý thuyết của ADam Smith nói riêng, đã có tác dụng tích cực đối với su phát triển của chủ nghĩa tư bản và của KTTT trong thời kỳ cạnh tranh tự do. Nhưng, cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự xuất hiện của độc quyền. lý thuyết này dần dan trở nên không phù hop. Cuộc tổng khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 là biểu hiện sau dam nhất về sự không hoàn hao của thị trường và sự bat lực của “ban tay vô hình”, và cũng là cơ sở thực tiên cho sự ra đời học thuyết kinh tế vẻ sự can thiệp của nhà nước.
Nhà kinh tế học người Anh John Meynard Keynes (188-4 - 1946) da dưa ra lý thuyết nhà nước điều tiết nẻn KTTT trong tác phẩm nồi tiếng của ông: "Ly thuyet chung vẻ việc lam, lợi tức và tiền tẻ”, xuất bản vào nam 1936. Keynes cho rang, chủ nghĩa tư bản phát triển đến mot giai đoạn nhất định, thì cơ che tự điều chỉnh cua thị trường khong du sức dap tat các cuộc khủng hoảng kinh tế, suy thoái và thất nghiệp. Tai hoạ do khủng hoảng và thất nghiệp đồ lèn đầu những người lao động và thúc day ho nổi day lật đồ chủ nghĩa tư bản. Theo Keynes, sở di KTTT tư bản chủ nghĩa diễn ra khủng hoảng, that nghiệp là do các nguyên nhân sau: Thứ nhát.
sự vàn động của nẻn kinh tế tư bản chủ nghĩa chịu sự chi phối của "quy luật tâm lý xã hội cơ bản”. Nội dung của quy luật này là: Sự tang trưởng của nẻn kinh tế làm cho thu nhập tang lẻn. và do đó, mức tiẻu dùng vi the cùng tang lèẻn. nhưng mức do tháp hơn so với mức tang thu nhập.
Kinh té càng phat triển, thì khoang cách đó có xu hướng ngày cảng tang lèn, bởi vì cùng với sự phát triển của kinh te. thì mức do dap ứng nhu cầu cơ bản ngày càng tang lén, cho nén phan thu nhập dung cho chỉ tien se fe) it đi tương đối so với phần tiết kiệm.