Chương 1. Cơ sở lý luận về vai trò nhân viên công tác xã hội với trẻ PTCTT. Thực trạng vai trò của nhân viên công tác xã hội trong can thiệp trẻ khuyết tật trí tuệ tại Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Bình Dương - Chương 3. Vận dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân can thiệp trường hợp tại Trung tâm Bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Bình Dương.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT CHẬM PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ 1. Các lý thuyết trong nghiên cứu 1. Thuyết vai trò Theo TS. Võ Văn Việt (2015) “Xã hội học đại cương” cho rằng hành vi của con người được chỉ đạo (guide) bởi những sự mong muốn của cá nhân con người và của những người khác.
Những sự mong muốn này phù hợp với các vai trò khác nhau mà cá nhân đảm trách trong cuộc sống hàng ngày của họ, như là thư ký, cha, hoặc bạn bè. Ví dụ, hầu hết mọi người nhận thức được vai trò của người thư ký bao gồm: trả lời điện thoại, lập và quản lý các cuộc hẹn, sắp xếp giấy tờ, đánh máy các ghi chú công việc. Những sự mong đợi về vai trò này rõ ràng là khác với một cầu thủ bóng đá. Nói chung cá nhân có và quản lý nhiều vai trò.
Các vai trò bao gồm một nhóm các luật lệ, quy tắc chuẩn mực hoạt có chức năng như là bản kế hoạch hướng dẫn hành vi. Vai trò xác định những mục tiêu cần phải đạt được, những việc cần phải hoàn thành và những sự thi hành (performances) nào được yêu cầu trong một hoàn cảnh hoặc hình huống cụ thể. Lý thuyết vai trò cho rằng một phần quan trọng có thể quan sát được của hành vi xã hội và hành vi xã hội thông thường đơn giản là các cá nhân thực hiện vai trò của mình, giống như diễn viên thực hiện vai diễn viên thực hiện vai diễn của họ trên sân khấu hoặc là cầu thủ trên sân bóng. Lý thuyết vai trò có tính dự đoán.
Nó ngụ ý rằng nếu chúng ta có thông tin về những sự mong đợi về vai trò của một vị trí cụ thể (ví dụ: chị, em, lính cứu hỏa, …), một phần quan trọng hành vi của người nắm giữ vị trí đó có thể được dự đoán. Hơn nữa, lý thuyết vai trò còn cho rằng để thay đổi hành vi cần thiết phải thay đổi vai trò; vai trò tương ứng với hành vi và ngược lại. Bên cạnh việc ảnhhưởng mạnh mẽ đến hành vi, vai trò còn ảnh hưởng đến lòng tin, thái độ; cá nhân sẽ thay đổi lòng tin và thái độ tương ứng với vai trò của họ. Nhiều nhà học thuyết vai trò xem lý thuyết vai trò như là một trong những lý thuyết kết nối hành vi cá nhân và cấu trúc xã hội.
Vai trò, quy định một phần bởi cấu trúc xã hội, một phần bởi những sự tương tác xã hội, hướng dẫn hành vi của con người. Ngược lại, cá nhân ảnh hưởng, tác động đến các quy tắc, chuẩn mực, những sự mong muốn và hành vi liên quan đến vai trò. Lý thuyết vai trò gặp nhiều khó khăn trong việc giải thích về lệch lạc xã hội (social deviance) khi hành vi lệch lạc xã hội không tuân thủ theo vai trò đã được xác định trước. Ví dụ, hành vi của một số người thực việc vai trò của một tên cướp ngân hàng 12 có thể được dự đoán- anh ta sẽ cướp.
Nhưng nếu một nhân viên ngân hàng chỉ đơn giản cho tiền (bố thí) cho một người ngẫu nhiên nào đó, thì lý thuyết vai trò không thể giải thích được tại sao (mặc dù xung đột vai trò - role conflict có thể là một câu trả lời; nhân viên ngân hàng có thể là một nhà cộng sản-Marxist tin rằng phương tiện sản xuất phải là của công chúng không phải của nhà tư bản. Một giới hạn khác của lý thuyết vai trò là nó không và không thể giải thích tại sao mong muốn về vai trò trở thành như nó trở thành. Lý thuyết vai trò không có sự giải thích tại sao người lính nam phải cắt tóc ngắn, nhưng nó có thể dự đoán được khá chính xác nếu một người nào đó lá lính nam thì họ sẽ có tóc ngắn. Thêm nữa, lý thuyết vai trò không giải thích khi nào và làm thế nào những mong muốn vai trò thay đổi.
(Nguyễn Minh Tiến, 2011) Vận dụng lý thuyết vai trò vào nghiên cứu đề tài giúp NVCTXH đánh giá và xác định được vai trò của bản thân, trong quá trình can thiệp trẻ PTCTT. Giúp người NVCTXH nhìn nhận được những mặc làm được và chưa làm được tại Trung tâm Bảo trợ. Từ đó đưa ra những biện pháp tự cải thiện đóng góp cho sự phát triển của cơ sở trợ giúp, nâng cao năng lực khi can thiệp trẻ PPCTT. Thuyết thân chủ trọng tâm Lý thuyết lấy thân chủ làm trọng tâm được tiến sĩ Carl Rogers nhà tâm lý học lâm sàng người Mỹ phát triển thành lý thuyết vào những năm đầu của thập niên 1940.
Ông được giới tham vấn gọi là “ông thần của tham vấn” do khởi xướng ra phương pháp tham vấn không hướng dẫn.Liệu pháp thân chủ trọng tâm có thể áp dụng cho rất nhiều dạng thân chủ, bệnh nhân ở nhiều loại cơ sở trị liệu khác nhau. Carl Rogers khởi đầu việc trị liệu của mình như một nhà trị liệu theo định hướng phân tâm tại Trung tâm Hướng dẫn Trẻ em ở New York, nơi ông làm việc với những trẻ em thiệt thòi và gia đình của trẻ. Sau đó, ông làm việc tại Trung tâm Tư vấn thuộc Đại học Chicago, phục vụ cho các đối tượng trong cộng đồng cũng như cho các sinh viên đại học. (Nguyễn Minh Tiến, 2011) Tác giả sẽ vận dụng lý thuyết này trong can thiệp trợ giúp trẻ PPCTT.
Tác giả chú trọng đến vai trò của NVCTXH giúp cho thân chủ thấy mình được đón nhận được yêu thương và được tôn trọng, luôn xem thân chủ là trọng tâm và đặt lợi ích của thân chủ là mục tiêu quan trọng nhất. Từ đó thân chủ có thể phát huy hết năng lực tiềm năng của bản thân. Thuyết hệ thống thái 13 Thuyết hệ thống trong công tác xã hội bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát của bertalanffy. Thuyết này dựa trên quan điểm của lý thuyết sinh học cho rằng mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống, được tạo nên từ các tiểu hệ thống và đồng thời các tiểu hệ thống cũng là một phần của hệ thống lớn hơn.
Có hai loại thuyết hệ thống nổi bật được đề cập đến trong công tác xã hội là thuyết hệ thống tổng quát và thuyết hệ thống sinh thái. tuy nhiên trong phạm vi học phần này sẽ đề cập thuyết hệ thống dựa trên quan điểm sinh thái. Nhìn nhận dưới góc độ xã hội, thuyết hệ thống là một bộ phận hông thể tách rời của quan điểm sinh thái. Hành vi con người không phải bộc lộ tự phát một cách độc lập mà nằm trong mối quan hệ với những hệ thống khác trong xã hội.
Đại diện của thuyết hệ thống sinh thái là hearn, siporin, german & gitterman và german. Thuyết hệ thống sinh thái nhấn mạnh đến sự tương tác giữa con người với môi trường sinh thái của mình. do đó, nguyên tắc tiếp cận là cuộc sống của mỗi con người phụ thuộc vào môi trường xã hội mà họ sinh sống, trong đó có những mối quan hệ tương tác lẫn nhau giữa các hệ thống. Khi can thiệp vào bất cứ điểm nào trong hệ thống thì cũng sẽ tạo ra sự thay đổi trong toàn hệ thống.
Trong lý thuyết này, tất cả các vấn đề của con người phải được nhìn nhận một cách tổng thể trong mối quan hệ với các yếu tố khác, chứ không chỉ nhìn nhận và tác động một cách đơn lẻ. Mọi người trong hoàn cảnh sống đều có những hành động và phản ứng ảnh hưởng lẫn nhau, và một hoạt động can thiệp hoặc giúp đỡ với một người sẽ có ảnh hưởng đến những yếu tố xung quanh. Vì thế, trong các hoạt động CTXH, chúng ta phải nhìn vấn đề cần thay đổi trên nhiều phương diện và ở nhiều mức độ khác nhau, trên lĩnh vực cá nhân, gia đình, cộng đồng, xã hội và thế giới. Công tác xã hội Theo Bách khoa toàn thưphân tích “Công tác xã hội là nghề thực hành và là một lĩnh vực học thuật hoạt động chuyên môn nhằm trợ giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng phục hồi hay tăng cường chức năng xã hội góp phần đảm bảo nền an sinh xã hội.
Được thực hiện theo những nguyên tắc và được vận hành trên cơ sở văn hóa truyền thống của dân tộc nhằm giải quyết các nan đề trong cuộc sống của họ”. Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2012), trong “Giáo trình Nhập môn công tác xã hội” cho rằng “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng 14 xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội”. Nhân viên công tác xã hội Theo Hiệp hội các nhà Công tác xã hội chuyên nghiệp Quốc tế - IFSW (2005), định nghĩa: “Nhân viên công tác xã hội là người được đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội, họ có nhiệm vụ: Trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống, tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn” Theo DuBois and Miley (2005), “Nhân viên công tác xã hội là những nhà chuyên nghiệp làm chủ những nền tảng kiến thức cần thiết, có khả năng phát triển các kỹ năng cần thiết, tuân theo những tiêu chuẩn và đạo đức của nghề công tác xã hội” 1. Vai trò NVCTXH Theo quan điểm của Feyerico (1973), người NVCTXH có những vai trò sau đây: 1.
Vai trò là người vận động nguồn lực Là người trợ giúp đối tượng (cá nhân, gia đình, cộng đồng.) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) để giải quyết vấn đề. Nguồn lực có thể bao gồm về con người, về cơ sở vật chất, về tài chính, kỹ thuật, thông tin, sự ủng hộ về chính sách nhà nước.