MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Với tư cách là một thành viên của xã hội loài người, dé sinh tồn và phát triển con người không thé tách rời bản thân với đồng loại, luôn gan kết và nằm trong lòng các mạng lưới xã hội. Việc hình thành tâm lý và phát triển nhân cách toàn diện là kết quả của quá trình mà trong đó mỗi cá nhân không ngừng tương tác với nhau dé thiết lập các mối liên hệ xã hội tích cực, chất lượng. Theo Karl Marx bản chất con người không phải là một cai gi đó trừu tượng, luôn luôn cé kết, ôn định, mang tính đơn lẻ, riêng biệt mà: “Bản chất của con người là tong hoà những quan hệ xã hội” [12, tr.
Do vậy lẽ tất yếu, con người không ngừng nỗ lực xây dựng, duy trì và phát triển MLXH cho bản thân và chính họ lại nằm trong sự chi phối, tác động của MLXH. Với tầm quan trọng vốn có, MLXH trở thành chủ đề nghiên cứu của khoa học liên ngành, điều đó giúp MLXH trở thành một mảnh đất khoa học có giá trị cho công cuộc nghiên cứu, tìm hiểu và đưa ra những phát hiện mới. Có thé thay răng, XHH là một trong những ngành có khối lượng nghiên cứu đồ sộ về cả số lượng lẫn chất lượng, cả không gian và thời gian về chủ đề MLXH. Bang nhiều cách diễn giải khác nhau nhưng tựu trung cốt lõi của MLXH đều xoay quanh sự phức thể [16] của các mối quan hệ xã hội, được xây dựng giữa người với người, và trong quá trình đó sự kết nối thông tin giữa các cá nhân với nhau được thiết lập, tính hiệu qua của việc tiếp nhân thông tin tuỳ theo bối cảnh tương tác nhất định.
Với sự kết nối thông tin thì MLXH anh hưởng đến mọi phương diện đời sống vật chất và tinh thần của con người. Theo nhà xã hội học kinh điển Emile Durkheim quá trình hình thành nên “đoàn kết cơ giới” và “đoàn kết hữu cơ” chính là do sự thiết lập khác nhau căn bản về cau trúc MLXH trong các bối cảnh lịch sử xã hội khác nhau. Nhà xã hội học Mark Granovetter lại cho rằng mật độ và cường độ của các mối liên hệ xã hội có tác dụng khác nhau đối với giao tiếp và sự hội nhập của xã hội thông qua các mối liên hệ lỏng lẻo, hời hợt luôn có vai trò hoặc tạo được nhiều thuận lợi cho các cá nhân theo đuôi mục đích của mình [49]. Thậm chí, MLXH còn kiến tạo nên các vấn đề xã hội mang tầm vi mô khác khi nó còn duoc xem xét là một trong những nhân tố có sức ảnh hưởng lớn đến quá trình di cư quốc tế [1].
Thị trường lao động là một trong những nơi thé hiện rõ sự tồn tại và sự tương quan với các mối liên hệ xã hội. Một thập ky sau khi gia nhập tô chức thương mai thé 1 giới WTO, Việt Nam đã và đang chứng tỏ được khả năng của mình trong việc tận dụng các thời cơ dé phát triển năng động. Bên cạnh những kết qua đó, Việt Nam đang phải tiếp tục vượt qua nhiều thách thức ngày càng trở nên gay gắt mà một trong số đó là đáp ứng được nhu cầu việc làm trong xã hội và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng hơn [2] khi mà mỗi tân cử nhân sau khi tốt nghiệp đều phải bước vào cuộc canh tranh khốc liệt dé tìm kiếm việc làm. Cuộc khủng hoảng việc làm toàn cầu đang diễn ra trên quy mô chưa từng có, tỉ lệ thanh niên không có việc làm cao hon gấp ba lần so với lao động lớn tuổi [2].
Trong quá trình đó, mỗi cá nhân cần phải gạt bỏ tâm lý thụ động việc chờ người được thay bằng tâm thế chủ động: sẵn sàng đối phó với nạn thất nghiệp [16] một mặt phải chứng minh được năng lực học thuật vốn có của bản thân, mặt khác phải chủ động xây dựng các mối liên hệ hỗ trợ cho quá trình kiếm việc làm. Như vậy, việc làm từ một thuật ngữ của kinh tế học đã được nhìn nhận sang góc độ của xã hội học khi MLXH trở thành một trong những kênh quan trọng dé sinh viên tốt nghiệp tìm kiếm cho bản thân một công việc phù hợp. Do vậy, hướng nghiên cứu về nguồn lực lao động nói chung đặc biệt sinh viên tốt nghiệp - nhóm lực lượng lao động đặc thù nói riêng là một chủ đề mang tính thời sự. Mặc dù nghiên cứu tìm hiểu về vai trò của MLXH đối với việc làm của sinh viên tốt nghiệp là một hướng đi không mới - đã nhận được nhiều sự quan tâm nghiên cứu trước đó, nhưng hướng đi này vẫn nguyên vẹn giá trị thực tiễn bởi thị trường lao động và các MLXH biến đổi liên tục, mỗi giai đoạn khác nhau, nội hàm của MLXH lại có mối liên hệ khác nhau đến vấn đề việc làm.
Thêm vào đó, mặc dù các công trình nghiên cứu về thực trạng việc làm của sinh viên tốt nghiệp khá phong phú, tuy nhiên nghiên cứu vai trò của MLXH đến quá trình tìm kiếm việc làm và quá trình làm việc của sinh viên tốt nghiệp đặc biệt sinh viên thuộc khối ngành khoa học xã hội nhân văn nói chung và ngành XHH nói riêng vẫn cần được quan tâm. Vì vậy, chủ đề nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp thêm các nhận thức, cập nhật mới hơn những kết quả thực nghiệm về chủ đề này. Với tat cả những lý do đó, tác giả lựa chon dé tài nghiên cứu: Vai frò của mang lưới xã hội với việc làm của sinh viên tốt nghiệp ngành Xã hội học (Nghiên cứu trường hợp sinh viên tốt nghiệp ngành Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015, 2016). Tống quan về vấn đề nghiên cứu MLXH và việc làm của sinh viên tốt nghiệp là một chủ đề thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả ngoài nước cũng như trong nước.
Dưới đây là những công trình nghiên cứu tiêu biểu: 2. Những nghiên cứu trong nước 2. Các công trình nghiên cứu về việc làm của sinh viên tốt nghiệp Nhóm các công trình nghiên cứu về việc làm của sinh viên tốt nghiệp đã tạo nên một bức tranh tông thể về tình hình việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp - những khó khăn, thách thức; những yếu tố, kỹ năng để góp phần giúp sinh viên tự tin gia nhập thị trường lao động sau tốt nghiệp; những định hướng nghề nghiệp và giải pháp góp phần nâng cao khả năng hội nhập của sinh viên sau tốt nghiệp. Các cuộc điều tra lao động và việc làm hằng năm của Tổng CỤC thống kê và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã cho thấy quy mô về việc làm của người lao động và đặc biệt là quy mô và tỷ lệ thanh niên tham gia thị trường lao động.
Vào năm 2009, theo “Báo cáo kết quả điều tra lao động và việc làm toàn quốc giai đoạn 2004 - 2008” của Tổng CỤC Thống kê và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội [37] thì tỷ lệ thanh niên tham gia thị trường lao động tăng đều trong 10 năm qua. Hằng năm có từ 1,2 - 1,6 triệu thanh niên bước vào độ tuôi lao động. Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp 2008, 2010, 2012 so với tỉ lệ lao động động cả nước tăng theo thời gian, cụ thé là 4,2%, 5,2%, 5,5%, tỷ lệ thanh niên thành thị thất nghiệp ở mức 9,17% cao hơn gấp 2 lần thanh niên thất nghiệp ở nông thôn 4,25%. Đến 1/1/2013 thanh niên trong nhóm tuổi 15 - 24 chiếm 46,7% tổng số người thất nghiệp trong cả nước.
Thị trường việc làm tiếp tục thay đổi theo thời gian. Đến năm 2015 [36] số liệu của Tổng cuc Théng ké cho thay Việt Nam có 53,984 triệu lao động, trong đó có 52,8 triệu người có việc làm và hơn | triệu người thất nghiệp. Lực lượng lao động thanh niên (15 - 24 tuổi) hon 8 triệu người chiếm 14,8% lao động cả nước, trong đó có 7,5 triệu thanh niên có việc làm, chiếm 14,1%. Ty trọng nữ thanh niên tham gia hoạt động kinh tế đều thấp hơn nam thanh niên theo thành thị, nông thôn và 6 vùng kinh tế - xã hội.
Gần 3⁄4 thanh niên có việc làm ở khu vực nông thôn. Số thanh niên thất nghiệp chiếm 49,2% tông số người thất nghiệp, cao hơn 5,4 lần so với tỷ lệ thất nghiệp của những người từ 25 tuôi trở lên. Xu hướng chung của cả nước, tỷ lệ thất nghiệp của nữ thanh niên cao hơn nam thanh niên là 7,3% so với 6,8%. Nghiên cứu “Việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp” [21], tác giả Bùi Thị Lan đã nêu rõ nghịch lý đang diễn ra, đó là việc sinh viên ra trường không có việc làm nhưng các doanh nghiệp cũng thiếu lao động cả về số lượng và chất lượng.
Theo đánh giá của nhà tuyên dụng sau khi tiếp nhận sinh viên tốt nghiệp đều có chung nhận xét: một là, sinh viên ra trường chưa thể làm ngay được công việc chuyên môn; hai là, hầu hết sinh viên không thể tự lên kế hoạch học tập dé hoàn thiện ban thân trong công việc; ba là, sinh viên thiếu hoặc chưa có kĩ năng mềm cần thiết phục vụ cho công việc được giao. Và trước đây, các trường đại học, cao đăng sư phạm đào tạo sát nhu cầu thực tế của địa phương nên sinh viên ra trường mau chóng có việc làm. Hiện nay, các trường sư phạm mở rộng chỉ tiêu tuyển sinh và đào tạo ra một lượng sinh viên lớn hơn nhu cầu của xã hội, sau khi tốt nghiệp sinh viên phải tự xoay sở, cùng với đó một số bạn trẻ với tam lí “cùng sào mới vào sư phạm ” tức là chỉ dé được làm sinh viên, điều đó làm chất lượng người thầy giảm sút. Trong nhiều năm qua, sinh viên ra trường không có việc làm trái nghề nhiều nhưng với sinh viên sư phạm còn gặp khó khăn hơn.
Trên thực tế dù có bằng khá giỏi thì sinh viên sư phạm cũng chưa được nhiều doanh nghiệp chào đón. Thêm vào đó là những vấn đề tiêu cực trong quá trình xin việc và thi công chức hiện nay. Tác giả đã đưa ra kết quả khảo sát thực tế một số sinh viên sư phạm sau tốt nghiệp: 62,16% sinh viên tốt nghiệp đang có việc làm; 37,84% chưa có việc làm. Khó khăn của sinh viên gặp phải khi đi tìm việc chủ yếu là năng lực ngoại ngữ, tin học và kỹ năng phỏng van.