Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Xã Nậm Mạ là một xã vùng thấp của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, nằm tại ngã ba suối Nậm Mạ và sông Đà, cách trung tâm huyện lỵ hơn 100 km theo đường bộ. Đây là địa bàn sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống vật chất và tinh thần còn gặp nhiều khó khăn, mật độ dân cư thưa thớt và phân bố rải rác. Đặc biệt, xã Nậm Mạ là địa bàn thực hiện 100% tái định cư phục vụ dự án Thủy điện Sơn La. Quá trình tích nước lòng hồ thủy điện đã làm diện tích đất canh tác lúa nước màu mỡ bị ngập sâu, khiến nguồn lực đất sản xuất bị thu hẹp đáng kể (toàn xã chỉ còn khoảng 15 ha lúa nước), đặt ra thách thức lớn đối với vấn đề an ninh lương thực và chuyển đổi sinh kế cho người dân.
Trong bối cảnh Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới được triển khai theo Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ nhằm thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, việc thực hiện các tiêu chí nông thôn mới tại các xã vùng sâu, vùng chịu tác động tái định cư như Nậm Mạ đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của cả hệ thống chính trị cơ sở. Việc phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội trong công tác tuyên truyền, vận động và hỗ trợ hội viên chuyển đổi mô hình kinh tế là yếu tố quyết định để triển khai chương trình hiệu quả.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lù Thị Phiếu (chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2018) xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Tìm hiểu vai trò của các tổ chức đoàn thể trong việc triển khai mô hình xây dựng nông thôn mới tại xã Nậm Mạ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu; từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng việc thực hiện các tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới tại xã Nậm Mạ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
- Phân tích vai trò của các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên) trong tiến trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương.
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới tại địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Nậm Mạ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò, trách nhiệm và kết quả hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong việc thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại cấp xã.
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Nậm Mạ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu (diện tích tự nhiên 3.034,12 ha, bao gồm 07 bản: Co Lẹ, Co Đớ, Nậm Mạ I, Nậm Mạ II, Huổi Ca, Sin Lao Lù và Tả Van).
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp và sơ cấp phản ánh tình hình kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 – 2017; thời gian thực hiện nghiên cứu thực địa từ ngày 15/01/2018 đến ngày 30/05/2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống lý luận dựa trên các khái niệm nền tảng về nông thôn và phát triển nông thôn trong quản lý kinh tế:
- Khái niệm phát triển nông thôn: Tác giả tiếp cận theo quan điểm của Mai Thanh Cúc (2005), xác định phát triển nông thôn là quá trình mang tính toàn diện và đa phương, kết hợp giữa nâng cao năng lực sản xuất nông nghiệp, phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, hoàn thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao nguồn nhân lực và quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên.
- Nhận diện tồn tại nông thôn: Phân tích 5 vấn đề bức xúc của nông thôn Việt Nam được xác định tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (tam nông) và các diễn đàn khoa học, bao gồm: kinh tế thuần nông phụ thuộc tự nhiên; kết cấu hạ tầng kỹ thuật yếu kém; gia tăng dân số gây áp lực việc làm; nông dân thiếu việc làm do mất đất canh tác; thiếu hụt tri thức và công nghệ chuyển giao.
- Khung pháp lý và chuẩn mực: Căn cứ Quyết định số 800/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới với 19 tiêu chí thuộc 5 nhóm (Quy hoạch, Hạ tầng kinh tế - xã hội, Kinh tế và tổ chức sản xuất, Văn hóa - Xã hội - Môi trường, Hệ thống chính trị và an ninh trật tự).
- Bài học kinh nghiệm thực tiễn: Tổng kết các mô hình quốc tế gồm Phong trào Nông thôn mới Hàn Quốc (Saemaul Undong - SMU, từ năm 1970 với 4 trụ cột), Phong trào Mỗi làng một sản phẩm của Nhật Bản (OVOP, khởi xướng từ năm 1979 bởi Tiến sĩ Morihiko Hiramatsu), Dự án Mỗi xã một sản phẩm của Thái Lan (OTOP); cùng kinh nghiệm thí điểm 11 xã điểm trên cả nước và các điển hình đạt chuẩn NTM như xã Hưng Lộc (Đồng Nai), xã Đạo Đức (Hà Giang).
Để thực hiện đề tài, tác giả đã áp dụng kết hợp các phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu cụ thể:
| Nhóm phương pháp |
Kỹ thuật triển khai thực tế |
Nguồn dữ liệu / Đối tượng áp dụng |
| Thu thập số liệu thứ cấp |
Kế thừa, thống kê và tổng hợp từ các báo cáo chính thức |
Báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo NTM giai đoạn 2016-2017 của UBND xã Nậm Mạ, các phòng ban chuyên môn huyện Sìn Hồ. |
| Điều tra số liệu sơ cấp |
Phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý và đại diện tổ chức |
Cán bộ lãnh đạo UBND xã, đại diện thường trực Hội LHPN, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên xã. |
| Tiếp cận có sự tham gia (PRA) |
Tham gia trực tiếp cùng các đoàn thể trong các buổi sinh hoạt, tuyên truyền |
Các chi hội phụ nữ, chi đoàn thanh niên, buổi tập huấn chuyển giao kỹ thuật tại các bản. |
| Phương pháp quan sát |
Quan sát hiện trường cơ sở hạ tầng, đường giao thông, nhà văn hóa, hoạt động chăn nuôi, nuôi cá lồng |
Các công trình hạ tầng và mô hình kinh tế tại các bản Nậm Mạ I, Nậm Mạ II, Tả Van... |
| Phân tích tổng hợp & SWOT |
Đối chiếu hiện trạng với 19 tiêu chí quốc gia; phân tích ma trận điểm mạnh, yếu, cơ hội, thách thức |
Toàn bộ cơ sở dữ liệu kinh tế, xã hội, đất đai và kết quả thực hiện tiêu chí NTM tại địa bàn. |
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc xây dựng nông thôn mới tại huyện miền núi Sìn Hồ nói chung và xã tái định cư Nậm Mạ nói riêng. Khẳng định xây dựng nông thôn mới không chỉ là đầu tư hạ tầng mà phải gắn liền với phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc và giữ vững an ninh trật tự. Phần này xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu (1 mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể), nhiệm vụ nội dung, phương pháp thu thập dữ liệu (sơ cấp, thứ cấp, quan sát, có sự tham gia), cùng phạm vi thời gian (thực hiện từ 15/01/2018 đến 30/05/2018, số liệu năm 2016 – 2017) và không gian tại xã Nậm Mạ.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng nông thôn mới. Tác giả phân tích các đặc trưng cơ bản của nông thôn, 5 vấn đề tồn tại lớn trong quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp và làm rõ vai trò đa diện của mô hình nông thôn mới trên các bình diện kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, con người và môi trường. Toàn bộ nội dung 19 tiêu chí quốc gia được phân tích chi tiết thành 5 nhóm tiêu chuẩn kỹ thuật.
Về cơ sở thực tiễn, tác giả phân tích kinh nghiệm chuyển đổi của phong trào Saemaul Undong (Hàn Quốc) với bước nhảy thu nhập từ 824 USD (1970) lên 3.000 USD (1976), kinh nghiệm xây dựng thương hiệu nông sản từ mô hình OVOP (Nhật Bản với 329 sản phẩm thương mại sau 20 năm) và OTOP (Thái Lan). Tại Việt Nam, tác giả tổng kết quá trình triển khai từ 11 xã điểm trung ương (báo cáo tổng kết năm 2012 cho thấy thu nhập người dân tăng bình quân 70% so với 2008) đến bài học vận động hiến đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại xã Hưng Lộc (Đồng Nai) và xã Đạo Đức (Hà Giang).
Phần 3: Kết quả thực tập
Đây là nội dung thực nghiệm và phân tích thực tiễn trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện điều kiện địa phương, hiện trạng tiêu chí và vai trò của các tổ chức đoàn thể:
1. Điều kiện tự nhiên và cơ cấu đất đai:
Xã Nậm Mạ có tổng diện tích tự nhiên là 3.034,12 ha, giáp các xã Căn Co, Tủa Sín Chải, Nậm Cha (huyện Sìn Hồ) và huyện Tủa Chùa (tỉnh Điện Biên). Địa hình chủ yếu là núi đá cao, dốc, khí hậu nhiệt đới gió mùa chia làm hai mùa rõ rệt, lượng mưa trung bình 207,15 mm/tháng tập trung vào mùa mưa (tháng 4 đến tháng 10). Do địa bàn thuộc diện tái định cư 100% thủy điện Sơn La, cơ cấu sử dụng đất có sự phân hóa mạnh:
| Loại đất |
Năm 2016 (ha) |
Tỷ lệ (%) |
Năm 2017 (ha) |
Tỷ lệ (%) |
| Tổng diện tích đất tự nhiên |
3.034,12 |
100,00 |
3.034,12 |
100,00 |
| 1. Đất nông nghiệp |
803,94 |
26,50 |
803,94 |
26,50 |
| - Đất trồng lúa nước |
15,00 |
0,49 |
15,00 |
0,49 |
| - Đất trồng lúa nương |
84,07 |
2,77 |
84,07 |
2,77 |
| - Đất trồng cây hàng năm |
538,93 |
17,76 |
488,11 |
16,09 |
| - Đất trồng cây lâu năm |
125,00 |
4,12 |
175,00 |
5,76 |
| - Đất nuôi trồng thủy sản |
40,00 |
1,32 |
40,00 |
1,32 |
| 2. Đất lâm nghiệp (rừng phòng hộ) |
821,65 |
27,10 |
821,65 |
27,10 |
| - Đất rừng tự nhiên phòng hộ |
647,99 |
21,37 |
647,99 |
21,37 |
| - Đất rừng phục hồi |
130,19 |
4,30 |
130,19 |
4,30 |
| - Đất phòng hộ khác |
43,47 |
1,43 |
43,47 |
1,43 |
| 3. Đất phi nông nghiệp |
783,45 |
25,80 |
783,45 |
25,80 |
| - Đất sông suối |
723,05 |
23,83 |
723,05 |
23,83 |
| - Đất hạ tầng kỹ thuật |
59,97 |
1,98 |
59,97 |
1,98 |
| - Đất ở nông thôn |
29,40 |
0,97 |
29,40 |
0,97 |
| 4. Đất chưa sử dụng |
595,10 |
19,61 |
595,10 |
19,61 |
Biến động đáng chú ý trong cơ cấu đất đai là việc chuyển đổi 50,82 ha đất trồng cây hàng năm sang trồng cây lâu năm (trồng cây quế), nâng diện tích cây lâu năm lên 175,00 ha vào năm 2017.
2. Tình hình dân sinh và phát triển kinh tế:
Đến năm 2017, xã Nậm Mạ có 386 hộ với 1.857 nhân khẩu (bình quân 4,8 người/hộ), mật độ dân số 61 người/km2, tốc độ gia tăng dân số 2%/năm. Thành phần dân tộc gồm: dân tộc Thái chiếm đa số tuyệt đối với 1.746 người (94,02%), dân tộc Kinh có 82 người, dân tộc Mường có 19 người, các dân tộc khác 10 người.
Tổng lực lượng lao động năm 2017 là 1.120 người; trong đó lao động nông nghiệp chiếm 85% (bình quân 4,19 lao động nông nghiệp/hộ), lao động phi nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 14-15%. Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản giữa năm 2016 và 2017 có sự chuyển biến rõ nét:
| Chỉ tiêu kinh tế |
Đơn vị tính |
Năm 2016 |
Năm 2017 |
Tỷ lệ so sánh (2017/2016) |
| Tổng sản lượng lương thực có hạt |
Tấn |
669,00 |
1.220,00 |
182,4% |
| Chăn nuôi gia súc, gia cầm |
Con |
10.502 |
16.236 |
154,6% |
| Đánh bắt thủy sản |
Tấn |
25,00 |
75,00 |
300,0% |
| Thu nhập bình quân đầu người |
Triệu đồng/năm |
15,00 – 15,50 |
25,00 – 28,00 |
173,8% |
| Bình quân lương thực đầu người |
Kg/người/năm |
450,00 |
500,00 |
111,1% |
| Tỷ lệ hộ nghèo |
% |
18,00 |
14,20 |
Giảm 3,8% |
3. Hiện trạng thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới:
Đến năm 2018, xã Nậm Mạ đã đạt 16/19 tiêu chí NTM. Có 3 tiêu chí chưa đạt chuẩn gồm:
- Tiêu chí số 4 (Trường học): Cơ sở vật chất trường học các cấp chưa đáp ứng chuẩn quốc gia.
- Tiêu chí số 8 (Thông tin và truyền thông): Điểm phục vụ bưu chính viễn thông và ứng dụng CNTT chưa hoàn thiện theo chuẩn.
- Tiêu chí số 11 (Hộ nghèo): Tỷ lệ hộ nghèo của xã năm 2017 còn 14,2%, chưa đạt mức quy định dưới 10%.
4. Đánh giá vai trò của các tổ chức đoàn thể:
- Hội Liên hiệp Phụ nữ: Vận động 80% hộ gia đình hội viên xây dựng mô hình "Vườn rau gia đình"; tổ chức 4 đợt tham quan mô hình kinh tế hiệu quả; phối hợp Trạm Khuyến nông mở 6 lớp tập huấn khoa học kỹ thuật cho 315 hội viên về trồng hoa, cây cảnh, rau màu và nuôi thủy sản. Hội đứng ra tín chấp và huy động nguồn vốn vay với tổng số tiền 2.650,1 triệu đồng, giải ngân cho 300 lượt hộ vay (trong đó có 70 hộ phụ nữ nghèo), tỷ lệ sử dụng vốn hiệu quả đạt 90 – 95%. Xây dựng 28 mô hình phụ nữ làm kinh tế giỏi; thành lập 2 câu lạc bộ giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh tại bản Nậm Mạ I và Nậm Mạ II, giúp hạ tỷ lệ sinh con thứ 3 xuống còn 5% (5/98 trường hợp).
- Hội Nông dân: Triển khai nòng cốt phong trào "Nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi". Số lượng hộ đăng ký tăng qua từng năm: năm 2015 đạt 400 hộ, năm 2016 đạt 470 hộ và năm 2017 đạt 650 hộ. Riêng năm 2017 có 86 hộ đạt danh hiệu cấp tỉnh, 232 hộ cấp huyện và 225 hộ cấp xã. Điển hình là hộ bác Vàng Văn Chơn (bản Nậm Mạ II) phát triển hơn 20 lồng cá trên lòng hồ thủy điện, đạt doanh thu trên 100 triệu đồng/năm. Hội hỗ trợ phân bón NPK theo hình thức trả chậm; tổ chức 5 lớp dạy nghề nông nghiệp (chăn nuôi, hoa cây cảnh); vận động bình xét 2.568/3.120 lượt hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa (80,05%) và 4/5 bản đạt chuẩn bản văn hóa.
- Hội Cựu chiến binh: Đóng vai trò bảo vệ chính quyền, thực hiện Quy chế 82 và Nghị quyết liên tịch 01 với lực lượng Công an về an ninh trật tự, đảm nhận tổ trưởng các tổ tự quản. Trong công tác giảm nghèo, Hội phân loại cơ cấu kinh tế hội viên năm 2017 gồm 50 hộ giàu, 120 hộ khá, 163 hộ trung bình và chỉ còn 5 hộ nghèo; quyên góp trên 3 triệu đồng giúp đỡ hội viên khó khăn. Tỷ lệ gia đình hội viên đạt chuẩn văn hóa trên 96%, hội viên gương mẫu đạt trên 95%.
- Đoàn Thanh niên: Phát động phong trào "Tuổi trẻ Nậm Mạ chung tay xây dựng nông thôn mới". Thành lập 10 câu lạc bộ thanh niên làm kinh tế giỏi với 240 đoàn viên tham gia; xuất hiện các mô hình tiêu biểu như cơ sở sản xuất giống thủy sản của anh Lù Văn Tài, trang trại chăn nuôi gia súc của anh Vàng Văn Lợi. Đoàn xã phối hợp mở các lớp đào tạo nghề kỹ thuật (điện dân dụng, hàn, cốp pha, sửa chữa xe máy) và tập huấn VAC cho 200 đoàn viên. Trong xây dựng hạ tầng, thanh niên xã huy động xã hội hóa được 100 triệu đồng và 10 tấn xi măng làm nhà tình nghĩa, đóng góp xây dựng nhà văn hóa bản Nậm Mạ II trị giá 70 triệu đồng; phối hợp cùng các cấp bộ Đoàn tham gia hỗ trợ, sửa chữa 50 ngôi nhà nhân ái, nhà văn hóa với tổng giá trị hơn 1 tỷ đồng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đưa ra các kết quả nghiên cứu cụ thể, gắn liền với số liệu điều tra thực tế tại xã Nậm Mạ:
- Đánh giá khách quan tiến độ NTM: Xác định rõ xã đạt 16/19 tiêu chí, chỉ rõ 3 tiêu chí nghẽn (Trường học, Thông tin truyền thông, Hộ nghèo - 14,2%), phân tích rõ nguyên nhân do mất đất sản xuất sau tái định cư và địa bàn cách xa trung tâm huyện (>100 km).
- Minh chứng vai trò đoàn thể bằng số liệu kinh tế: Khẳng định các đoàn thể không chỉ làm công tác tuyên truyền chính trị mà đã trở thành cầu nối kinh tế: ủy thác hơn 2,65 tỷ đồng vốn vay phụ nữ; phát triển 650 hộ nông dân thi đua SXKD giỏi; huy động 100 triệu đồng và hàng trăm ngày công thanh niên làm đường, xây dựng nhà văn hóa.
- Hệ thống giải pháp và kiến nghị:
- Đối với UBND xã Nậm Mạ: Cần chủ động quy hoạch lại mạng lưới trường lớp, đẩy mạnh xã hội hóa để đạt tiêu chí số 4; phối hợp các nhà mạng viễn thông nâng cấp hạ tầng bưu điện - internet cho tiêu chí số 8; quy hoạch vùng nuôi cá lồng trên hồ thủy điện Sơn La và giao diện tích mặt nước (hiện có 40 ha đất mặt nước chuyên dùng và 45,51 ha khu vực tiềm năng) để tạo sinh kế giảm nghèo bền vững xuống dưới 10%.
- Đối với các đoàn thể: Đổi mới phương thức sinh hoạt chi hội tại các bản xa (Huổi Ca, Sin Lao Lù, Tả Van); đẩy mạnh dạy nghề phi nông nghiệp, nhân rộng mô hình kinh tế hợp tác và tổ tự quản an ninh trật tự.
- Đối với người dân: Thay đổi tư duy trông chờ ỷ lại vào chính sách hỗ trợ tái định cư; chủ động tiếp thu tiến bộ kỹ thuật thâm canh ngô 2 vụ, trồng quế trên đất dốc và phát triển chăn nuôi đại gia súc.
- Đóng góp nghiên cứu: Cung cấp báo cáo thực trạng toàn diện và bộ dữ liệu kinh tế - xã hội cơ sở giai đoạn 2016-2017 cho Đảng ủy, HĐND và UBND xã Nậm Mạ phục vụ công tác điều hành, xây dựng kế hoạch hoàn thành 19 tiêu chí nông thôn mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Đề tài thực hiện trong phạm vi thời gian thực tập ngắn hạn (15/01/2018 - 30/05/2018); địa bàn nghiên cứu có tính đặc thù cao (xã vùng sâu, 100% tái định cư thủy điện, đồng bào dân tộc Thái chiếm trên 94%), do đó khả năng khái quát hóa mô hình cho các vùng nông thôn đồng bằng hoặc bán sơn địa bị hạn chế. Nguồn số liệu thứ cấp chủ yếu dựa trên báo cáo hành chính của xã Nậm Mạ, dữ liệu phỏng vấn sâu tập trung ở cấp lãnh đạo đoàn thể, chưa thực hiện khảo sát ngẫu nhiên trên diện rộng đối với toàn thể hộ dân ngoài hội viên.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động dài hạn của các mô hình kinh tế lồng bè thủy sản và trồng quế lâm nghiệp sau khi xã đạt chuẩn 19 tiêu chí NTM; so sánh hiệu quả hoạt động đoàn thể giữa các xã tái định cư vùng lòng hồ sông Đà tại các tỉnh Lai Châu, Điện Biên và Sơn La.
Giá trị tham khảo
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lù Thị Phiếu là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho các đối tượng sau:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành: Phù hợp cho sinh viên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý kinh tế nông thôn làm tài liệu tham khảo về phương pháp xây dựng báo cáo phân tích thực trạng xã vùng cao, kỹ thuật lập bảng thống kê sử dụng đất và phương pháp đánh giá 19 tiêu chí nông thôn mới cấp xã.
- Cán bộ quản lý cơ sở và tổ chức đoàn thể: Cán bộ phụ trách chương trình xây dựng nông thôn mới, cán bộ Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên tại các địa phương vùng sâu, vùng chịu tác động tái định cư công trình thủy điện có thể tham khảo các kinh nghiệm thực tế về: quản lý nguồn vốn ủy thác, tổ chức phong trào thi đua sản xuất kinh doanh giỏi, thành lập các câu lạc bộ kinh tế thanh niên và huy động nguồn lực xã hội hóa xây dựng nhà văn hóa thôn bản.
Câu hỏi thường gặp
1. Địa bàn xã Nậm Mạ có đặc điểm tự nhiên và xã hội nào đặc thù chi phối quá trình xây dựng nông thôn mới?
Xã Nậm Mạ là xã vùng thấp của huyện Sìn Hồ nhưng cách trung tâm huyện hơn 100 km, địa hình núi đá cao có độ dốc lớn. Đặc điểm chi phối lớn nhất là toàn xã thực hiện 100% tái định cư thủy điện Sơn La; lòng hồ tích nước làm đất trồng lúa nước bị ngập chỉ còn 15 ha (chiếm 0,49% diện tích tự nhiên). Xã có 386 hộ, 1.857 nhân khẩu với dân tộc Thái chiếm đa số tuyệt đối (94,02%), đời sống phụ thuộc vào nông nghiệp đồi dốc, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản trên lòng hồ sông Đà.
2. Đến năm 2018, xã Nậm Mạ đã hoàn thành bao nhiêu tiêu chí nông thôn mới và còn những tiêu chí nào chưa đạt?
Tính đến năm 2018, xã Nậm Mạ đã đạt 16 trong tổng số 19 tiêu chí theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Có 3 tiêu chí chưa đạt gồm: Tiêu chí số 4 (Trường học - cơ sở vật chất chưa đạt chuẩn), Tiêu chí số 8 (Thông tin và truyền thông - hạ tầng bưu điện viễn thông chưa đồng bộ) và Tiêu chí số 11 (Hộ nghèo - tỷ lệ hộ nghèo của xã năm 2017 là 14,2%, trong khi quy định đạt chuẩn là dưới 10%).
3. Phong trào nông dân thi đua sản xuất kinh doanh giỏi tại xã Nậm Mạ ghi nhận những kết quả cụ thể nào?
Phong trào có sự gia tăng liên tục về số hộ đăng ký: từ 400 hộ (năm 2015) lên 470 hộ (năm 2016) và đạt 650 hộ (năm 2017). Trong năm 2017, toàn xã có 86 hộ đạt danh hiệu cấp tỉnh, 232 hộ đạt cấp huyện và 225 hộ đạt cấp xã. Điển hình tiêu biểu được ghi nhận trong nghiên cứu là hộ bác Vàng Văn Chơn tại bản Nậm Mạ II, từ hoàn cảnh khó khăn đã phát triển mô hình nuôi hơn 20 lồng cá trên hồ thủy điện, đạt thu nhập trên 100 triệu đồng/năm.
4. Hội Liên hiệp Phụ nữ xã Nậm Mạ đã thực hiện các biện pháp cụ thể nào để hỗ trợ kinh tế và nâng cao đời sống hội viên?
Hội Phụ nữ đã vận động 80% hộ gia đình xây dựng vườn rau tự cấp; phối hợp mở 6 lớp tập huấn khoa học kỹ thuật cho 315 hội viên; đứng ra nhận ủy thác và huy động 2.650,1 triệu đồng giải quyết cho 300 hộ vay vốn (70 hộ phụ nữ nghèo) với hiệu quả sử dụng vốn đạt 90 – 95%; xây dựng 28 mô hình làm kinh tế giỏi; thành lập 2 câu lạc bộ giảm thiểu mất cân bằng giới tính tại bản Nậm Mạ I và II, kéo giảm tỷ lệ sinh con thứ ba xuống mức 5%.
5. Lực lượng Đoàn Thanh niên xã đã đóng góp nguồn lực vật chất cụ thể nào cho cơ sở hạ tầng nông thôn?
Đoàn xã Nậm Mạ đã vận động xã hội hóa được 100 triệu đồng và 10 tấn xi măng để xây dựng nhà tình nghĩa; đóng góp xây dựng 01 nhà văn hóa trị giá 70 triệu đồng tại bản Nậm Mạ II. Đồng thời, lực lượng thanh niên địa phương đã phối hợp với các cấp bộ Đoàn thực hiện hỗ trợ, sửa chữa 50 ngôi nhà nhân ái, nhà văn hóa thôn và nhà đền ơn đáp nghĩa với tổng giá trị thực hiện trên 1 tỷ đồng.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lù Thị Phiếu đã phản ánh hệ thống và chi tiết bức tranh kinh tế - xã hội cùng tiến trình xây dựng nông thôn mới tại xã tái định cư Nậm Mạ, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu giai đoạn 2016 – 2018. Kết quả nghiên cứu khẳng định sự chủ động, hiệu quả thiết thực của các tổ chức đoàn thể (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên) trong việc thúc đẩy chuyển đổi sinh kế lòng hồ, chuyển giao kỹ thuật và huy động vốn xã hội hóa, giúp xã hoàn thành 16/19 tiêu chí NTM. Đây là công trình nghiên cứu ứng dụng có giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quản trị phát triển nông thôn tại các địa bàn miền núi đặc thù.