Tổng quan nghiên cứu
Sự chuyển dịch từ cơ chế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đã tạo ra những bước ngoặt căn bản trong ngành Bưu chính - Viễn thông và Công nghệ thông tin. Năm 1995, mạng lưới viễn thông cả nước chỉ đạt mật độ khiêm tốn 0,4 máy điện thoại trên 100 dân với chưa đầy 1 triệu máy cố định và 23.500 thuê bao di động. Tuy nhiên, sau các giai đoạn tăng tốc và từng bước mở cửa thị trường, đến cuối năm 2007, tổng số thuê bao điện thoại toàn quốc đã chạm mốc 46 triệu thuê bao, nâng mật độ sử dụng điện thoại lên mức 32,57 máy trên 100 dân năm 2006 và tỷ lệ người dùng Internet đạt 21,4% dân số. Tổng doanh thu toàn ngành năm 2005 vượt mức 39.000 tỷ đồng, đóng góp 6.096 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước. Dẫu vậy, cơ cấu thị trường vẫn bộc lộ sự bất đối xứng lớn khi Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam nắm giữ tới 64% thị phần di động và quản lý toàn bộ hạ tầng mạng trục truyền dẫn quốc gia vào năm 2007, khiến các doanh nghiệp ngoài nhà nước chỉ chiếm thị phần khiêm tốn dưới 10%.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ vai trò quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong việc phá vỡ thế độc quyền tự nhiên, thiết lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh cho các doanh nghiệp viễn thông trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007. Mục tiêu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa lý luận kinh tế chính trị về cạnh tranh; đánh giá toàn diện thực trạng chính sách can thiệp của Nhà nước giai đoạn 1986–2007; phân tích các rào cản thể chế, bất cập pháp lý; và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản trị công đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở luận chứng để duy trì tốc độ tăng trưởng ngành viễn thông trên 20% mỗi năm, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng hệ thống lý luận kinh tế chính trị Mác - Lênin về cạnh tranh và độc quyền trong nền sản xuất hàng hóa. Theo học thuyết Mác, cạnh tranh nội bộ ngành thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ nhằm hạ chi phí cá biệt dưới mức hao phí lao động xã hội cần thiết để thu lợi nhuận siêu ngạch; trong khi cạnh tranh giữa các ngành dẫn tới sự dịch chuyển tư bản và hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa quan điểm của V.I. Lênin về việc độc quyền sinh ra từ cạnh tranh tự do nhưng không thủ tiêu cạnh tranh mà cùng tồn tại, tạo ra những mâu thuẫn gay gắt đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nước.
Bên cạnh lý thuyết Mác - Lênin, luận văn tích hợp các lý thuyết kinh tế học hiện đại về cấu trúc thị trường của Alfred Marshall, Edward Chamberlin và Joan Robinson về cạnh tranh không hoàn hảo, cạnh tranh độc quyền và độc quyền tự nhiên. Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Môi trường cạnh tranh (hệ thống thể chế kinh tế, pháp lý, chính sách định hình điều kiện gia nhập và hoạt động của doanh nghiệp); Cạnh tranh lành mạnh (hành vi ganh đua minh bạch dựa trên năng lực công nghệ và quản trị); Độc quyền nhà nước (sự kiểm soát của Nhà nước tại các phân khúc hạ tầng thiết yếu gắn với an ninh quốc gia); và Điều tiết vĩ mô (công cụ pháp luật và tài chính nhằm khắc phục thất bại thị trường). Luận văn cũng phân tích kinh nghiệm quốc tế từ 4 đạo luật chống độc quyền của Mỹ gồm Đạo luật Sherman 1890, Đạo luật Clayton 1914, Đạo luật Ủy ban Thương mại Liên bang 1914, Đạo luật Cải tiến 1976; chính sách tự do hóa thương mại của Singapore; và bài học của Trung Quốc khi đưa 85% hàng hóa vận hành theo giá thị trường kết hợp chia tách tập đoàn viễn thông quốc gia.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện được thu thập trong giai đoạn lịch sử từ năm 1986 đến năm 2007 từ Bộ Thông tin và Truyền thông, Tổng cục Thống kê, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, cùng báo cáo của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới và Liên minh Viễn thông Quốc tế. Cỡ mẫu nghiên cứu bao phủ 100% các doanh nghiệp nắm giữ hạ tầng mạng và thị phần chi phối tại Việt Nam gồm 6 nhà khai thác viễn thông hạ tầng lớn là VNPT, Viettel, SPT, Vishipel, VP Telecom, Hanoi Telecom, cùng hơn 50 doanh nghiệp cổ phần hóa hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ Internet và công nghệ thông tin.
Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm tập trung vào các chủ thể kinh tế đại diện cho toàn bộ cấu trúc thị trường dịch vụ cố định, di động và băng rộng. Về phương pháp phân tích, luận văn kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, trừu tượng hóa khoa học, phương pháp phân tích - tổng hợp và phương pháp kết hợp logic với lịch sử. Lý do lựa chọn hệ phương pháp này xuất phát từ bản chất của chuyên ngành Kinh tế chính trị: cần bóc tách các mối quan hệ lợi ích kinh tế đan xen, đánh giá bản chất quy luật vận động của thị trường từ trạng thái độc quyền nhà nước thuần túy sang kinh tế nhiều thành phần, từ đó đưa ra nhận định khách quan về vai trò quản trị vĩ mô của bộ máy công quyền.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, việc từng bước xóa bỏ độc quyền đã thúc đẩy hạ tầng viễn thông phát triển vượt bậc. Giai đoạn tăng tốc 1995–2005 ghi nhận bước nhảy vọt khi mạng lưới đạt 15,78 triệu máy điện thoại vào năm 2005 (mật độ 19,01 máy trên 100 dân, vượt gấp 2 lần chỉ tiêu Đại hội Đảng lần thứ IX đặt ra) và đạt 27,46 triệu máy năm 2006 (mật độ 32,57 máy trên 100 dân). Đặc biệt, tính đến ngày 30/12/2005, 100% số xã trên toàn quốc đã có máy điện thoại, đồng thời mạng lưới bưu điện văn hóa xã đạt 17.534 điểm năm 2005 và tăng lên 19.888 điểm năm 2006, đạt bán kính phục vụ 2,37 km.
Thứ hai, cấu trúc thị trường chuyển dịch từ độc quyền tuyệt đối sang cạnh tranh nhóm nhưng tỷ lệ tập trung kinh tế vẫn ở mức rất cao. Tính đến quý III năm 2007, thị trường thông tin di động có sự phân hóa sâu sắc: VNPT chiếm 64% thị phần, Viettel chiếm 31%, EVN Telecom chiếm 8%, trong khi các doanh nghiệp tư nhân và cổ phần ngoài nhà nước như S-Fone chỉ chiếm 6% và HT Mobile chiếm 1%. Tổng thị phần của các doanh nghiệp ngoài nhà nước chỉ chiếm dưới 10%, phản ánh môi trường cạnh tranh chưa thực sự bình đẳng.
Thứ ba, sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành rào cản lớn cho năng lực cạnh tranh. Theo số liệu khảo sát từ các báo cáo ngành, năm 2007 Việt Nam thiếu hụt khoảng 800 chuyên gia mạng cao cấp và con số này dự kiến tăng khoảng 20% mỗi năm, dẫn đến mức thiếu hụt 1.900 chuyên gia vào năm 2009. Đến năm 2010, toàn ngành công nghệ thông tin và truyền thông ước tính cần 120.000 nhân lực, trong đó riêng lao động chuyên môn chiếm khoảng 85.000 người.
Thứ tư, bất cập thể chế trong việc sở hữu và vận hành hạ tầng mạng trục viễn thông. VNPT vừa đóng vai trò là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bán lẻ, vừa được giao độc quyền quản trị hạ tầng mạng trục truyền dẫn quốc gia. Điều này dẫn tới việc các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường phải phụ thuộc hoàn toàn vào giá cước kết nối và điều kiện kỹ thuật do chính đối thủ cạnh tranh trực tiếp quy định.
Thảo luận kết quả
Thực trạng trên bắt nguồn từ nguyên nhân thể chế quản lý nhà nước chậm đổi mới so với tốc độ mở cửa kinh tế. Mặc dù Luật Cạnh tranh đã có hiệu lực từ ngày 01/07/2005, song các nghị định hướng dẫn thi hành chuyên ngành viễn thông trong thời gian dài vẫn chưa được ban hành đồng bộ, tạo ra khoảng trống pháp lý trong việc xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường. Cơ chế phân định giữa chức năng quản lý nhà nước của Bộ Bưu chính, Viễn thông (sau là Bộ Thông tin và Truyền thông) và hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn VNPT giai đoạn đầu còn nhiều điểm giao thoa chưa dứt điểm.
Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu có thể được trình bày thông qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu thị phần di động năm 2007 (thể hiện rõ thế chân vạc bất đối xứng với VNPT 64%, Viettel 31%, EVN 8% và các mạng khác 7%), kết hợp cùng bảng so sánh tăng trưởng mật độ thuê bao điện thoại giai đoạn 1995–2007 (từ 0,4 máy lên 32,57 máy trên 100 dân). So sánh với nghiên cứu tại các thị trường chuyển đổi như Trung Quốc sau đợt chia tách China Telecom năm 1999 thành 4 công ty độc lập, có thể thấy Việt Nam đã thành công trong việc hạ giá cước dịch vụ ngang bằng mức trung bình khu vực theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới. Tuy nhiên, nếu không tách bạch triệt để giữa hạ tầng mạng trục thiết yếu và dịch vụ viễn thông thương mại, nguy cơ triệt tiêu động lực cạnh tranh của các nhà mạng vừa và nhỏ là hoàn toàn hiện hữu.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện khung khổ pháp lý chống độc quyền và kiểm soát cạnh tranh. Bộ Thông tin và Truyền thông phối hợp với Bộ Công Thương khẩn trương ban hành đầy đủ 4 nghị định hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin. Cần thiết lập cơ chế giám sát nghiêm ngặt các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, ngăn chặn tình trạng bán phá giá hoặc áp đặt giá cước kết nối phân biệt đối xử của các doanh nghiệp nắm giữ trên 30% thị phần trước năm 2010.
Thứ hai, tái cấu trúc quản lý hạ tầng mạng viễn thông quốc gia. Chính phủ cần chỉ đạo tách bộ phận quản lý, vận hành mạng trục truyền dẫn quốc gia ra khỏi hoạt động kinh doanh dịch vụ bán lẻ của Tập đoàn VNPT, thành lập doanh nghiệp hạ tầng độc lập hoạt động theo cơ chế dùng chung trong giai đoạn 2009–2011. Giải pháp này giúp cắt giảm từ 15% đến 20% chi phí đầu tư hạ tầng trùng lặp giữa các nhà mạng và bảo đảm quyền tiếp cận mạng lưới bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế.
Thứ ba, đẩy mạnh cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu doanh nghiệp viễn thông nhà nước. Ban Đổi mới Doanh nghiệp Trung ương và Bộ Thông tin và Truyền thông cần đẩy nhanh lộ trình giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước tại hơn 50 doanh nghiệp dịch vụ viễn thông và Internet xuống dưới mức chi phối 49% trong giai đoạn 2008–2012. Việc này nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiếp nhận công nghệ mạng thế hệ mới NGN và phương thức quản trị quốc tế.
Thứ tư, triển khai chiến lược đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các hiệp hội chuyên ngành xây dựng đề án đào tạo bổ sung 1.900 chuyên gia an ninh và quản trị mạng đến năm 2009, hướng tới mục tiêu cung ứng đủ 120.000 lao động chuyên môn cho ngành ICT vào năm 2010. Nhà nước cần áp dụng chính sách ưu đãi thuế thu nhập và tài trợ nghiên cứu phát triển để thu hút chuyên gia giỏi làm việc tại các doanh nghiệp viễn thông.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách, bao gồm Bộ Thông tin và Truyền thông, Cục Quản lý Cạnh tranh và Viện Chiến lược Bưu chính Viễn thông. Tài liệu cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng quy hoạch phát triển mạng lưới, ban hành quy chế chia sẻ hạ tầng dùng chung và hoàn thiện các văn bản dưới luật điều tiết thị trường viễn thông.
Nhóm lãnh đạo doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế nhà nước như VNPT, Viettel, MobiFone. Luận văn cung cấp mô hình phân tích chuyển đổi quản trị từ cơ chế Tổng công ty 91 sang Tập đoàn kinh tế đa sở hữu theo Quyết định số 06/2006/QĐ-TTg, giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược cạnh tranh quốc tế khi vươn ra thị trường khu vực như Lào và Campuchia.
Nhóm doanh nghiệp viễn thông tư nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ thông tin và nhà đầu tư quốc tế. Nội dung nghiên cứu giúp nhận diện cấu trúc thị trường, đánh giá mức độ tập trung kinh tế và tìm kiếm cơ hội kinh doanh tại các phân khúc giàu tiềm năng như công nghiệp nội dung số (tăng trưởng 40% mỗi năm) hoặc dịch vụ mạng băng rộng.
Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học các ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế và Quản trị kinh doanh. Công trình là nguồn tài liệu học thuật giá trị, kết hợp sâu sắc giữa lý luận kinh tế thể chế với chuỗi số liệu thực tế giai đoạn 1986–2007, phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy và phát triển các đề tài liên quan đến điều tiết độc quyền.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao Nhà nước cần can thiệp tạo lập môi trường cạnh tranh trong ngành viễn thông? Viễn thông là ngành có đặc tính mạng lưới và độc quyền tự nhiên cao. Nếu thiếu sự điều tiết của Nhà nước thông qua các công cụ pháp lý, doanh nghiệp thống lĩnh thị trường (như VNPT từng chiếm trên 95% thị phần trước năm 2000) sẽ dựng lên các rào cản gia nhập, duy trì giá cước cao và triệt tiêu động lực đổi mới của các doanh nghiệp mới tham gia như Viettel hay SPT.
Mô hình chuyển đổi Công ty mẹ - Công ty con của Tập đoàn VNPT năm 2006 mang lại ý nghĩa gì? Theo Quyết định số 06/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, việc chuyển đổi giúp VNPT chuyển từ mô hình quản lý hành chính tập trung sang tập đoàn kinh tế kinh doanh đa ngành, lành lành mạnh hóa các mối quan hệ tài chính, tạo điều kiện cho hơn 50 đơn vị thành viên nâng cao năng lực tự chủ và nâng doanh thu toàn ngành vượt mức 39.000 tỷ đồng năm 2005.
Đâu là thách thức lớn nhất đối với nguồn nhân lực ngành viễn thông Việt Nam thời kỳ hội nhập? Thách thức lớn nhất là sự thiếu hụt nghiêm trọng lao động chuyên môn kỹ thuật cao. Báo cáo ngành cho thấy năm 2007 Việt Nam thiếu khoảng 800 chuyên gia quản trị mạng và con số này tăng lên 1.900 người vào năm 2009, trong khi chỉ tiêu phát triển kinh tế đòi hỏi ngành phải có 85.000 lao động chuyên trách trong tổng số 120.000 nhân lực vào năm 2010.
Việt Nam có thể rút ra bài học gì từ kinh nghiệm tái cấu trúc viễn thông của Trung Quốc? Trung Quốc đã rất quyết đoán khi xóa bỏ cơ chế bù chéo và chia tách tập đoàn độc quyền China Telecom thành 4 công ty kinh doanh độc lập vào năm 1999, sau đó tiếp tục tái cơ cấu năm 2002. Việc phân định rõ thị trường dịch vụ cố định, di động và dữ liệu đã tạo ra áp lực cạnh tranh thực chất, thúc đẩy dịch vụ mạng không dây nội hạt phát triển tới 36 triệu thuê bao chỉ sau vài năm.
Điểm bưu điện văn hóa xã đóng vai trò gì trong chính sách cạnh tranh và dịch vụ công ích? Mô hình bưu điện văn hóa xã với 17.534 điểm năm 2005 và tăng lên 19.888 điểm năm 2006 (bán kính phục vụ 2,37 km) là công cụ quan trọng giúp Nhà nước thực hiện mục tiêu bình đẳng xã hội. Mô hình này đưa công nghệ thông tin về nông thôn, hoàn thành chỉ tiêu 100% số xã có điện thoại, tạo nền tảng phổ cập dịch vụ cho mọi tầng lớp nhân dân.
Kết luận
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận kinh tế chính trị về vai trò điều tiết của Nhà nước trong quá trình chuyển đổi ngành viễn thông từ độc quyền tự nhiên sang cạnh tranh đa thành phần.
- Khái quát thành tựu đột phá đưa mật độ điện thoại từ 0,4 máy trên 100 dân năm 1995 lên 32,57 máy trên 100 dân năm 2006, phủ sóng điện thoại tới 100% số xã trên toàn quốc.
- Làm rõ rào cản cạnh tranh khi VNPT nắm giữ 64% thị phần di động năm 2007 và kiểm soát toàn bộ hạ tầng mạng trục, khiến khối tư nhân chỉ chiếm dưới 10% thị phần.
- Đúc kết bài học quản trị thể chế từ Mỹ, Singapore và Trung Quốc để vận dụng hiệu quả vào điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
- Đề xuất khung giải pháp toàn diện về hoàn thiện 4 nghị định hướng dẫn Luật Cạnh tranh, tách bạch hạ tầng mạng trục dùng chung và đào tạo 120.000 nhân lực ICT đến năm 2020.
Luận văn đã đóng góp một hệ thống luận cứ khoa học vững chắc, làm rõ bản chất kinh tế chính trị của việc kiến tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong các ngành công nghiệp mũi nhọn. Để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế số, các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần phối hợp triển khai ngay các giải pháp tái cấu trúc hạ tầng mạng lưới trong giai đoạn tới. Quý độc giả và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác sâu hơn các phân tích số liệu và khung mô hình chi tiết được trình bày toàn văn trong luận văn.