PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết nghiên cứu Để thực hiện nhiêm vụ “đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu” đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, ngày 10/6/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 899/QĐ-TTg về phê duyệt đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” (Thủ tướng Chính phủ, 2013). Đề án đã xác định xây dựng các HTX nông nghiệp, phát triển liên kết chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp là một trong các giải pháp để thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững và nâng cao giá trị gia tăng. Đề án đã chỉ rõ 03 nội dung quan trọng mà các HTX nông nghiệp cần thực hiện đó là: cung cấp dịch vụ đầu vào sản xuất, sơ chế, chế biến và liên kết tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Thực tế hiện nay, yêu cầu đổi mới tổ chức sản xuất, đẩy mạnh liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đang là xu hướng phát triển trên tất cả các ngành, lĩnh vực và các địa phương trên cả nước. Để đáp ứng yêu cầu này, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành “Quyết định số 1777/QĐ-BNN-KH ngày 17/5/2015 (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2015) về kế hoạch hành động thực hiện Quyết định số 458/QĐ-TTg ngày 9/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ” (Thủ tướng Chính phủ, 2015), đã xác định: “đổi mới và nhân rộng các mô hình liên kết hợp tác sản xuất theo chuỗi giá trị có năng suất, hiệu quả cao phù hợp với từng ngành hàng, lĩnh vực… thúc đẩy hợp tác, liên kết theo mô hình cánh đồng mẫu lớn, trên cơ sở đó nghiên cứu, xây dựng chính sách cho các lĩnh vực khác”. Nhằm thúc đẩy liên kết xây dựng CĐL, thời gian qua, Chính phủ và các bộ ngành Trung ương đã ban hành nhiều chính sách như: Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg (Thủ tướng Chính phủ, 2013a; Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2014); Quyết định số 1050/QĐ-NHNN (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2014); Nghị quyết số 14/NQ-CP (Chính phủ, 2014); Nghị định số 55/2015/NĐ-CP (Chính phủ, 2015). Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT, tính đến hết năm 2016, cả nước có 48/63 tỉnh triển khai với 2.262 điểm xây dựng CĐL, trong đó chủ yếu là CĐL đối với sản xuất lúa (có 1.661 CĐL lớn sản xuất lúa, chiếm 73,4% tổng số CĐL các loại).
Tổng diện tích liên kết CĐL sản xuất lúa cả nước đạt 556.000 ha, trong đó vùng ĐBSCL có diện tích lúa liên kết CĐL lớn nhất với 450. Thông qua thực hiện liên kết xây dựng CĐL, nhiều doanh nghiệp đã liên kết với các HTX nông nghiệp 2 theo chuỗi giá trị gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm. Riêng ở vùng ĐBSCL mỗi hecta lúa sản suất theo CĐL có thể giảm chi phí sản xuất từ 10-15% và giá trị sản lượng có thể tăng 20-25%, thu lời thêm từ 2,2-7,5 triệu đồng/ha. Tham gia liên kết xây dựng CĐL, người nông dân được ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm ổn định, được hỗ trợ kỹ thuật và trong nhiều trường hợp còn được doanh nghiệp liên kết cung ứng vật tư đầu vào không tính lãi.
Các doanh nghiệp thì có được vùng nguyên liệu ổn định với chất lượng bảo đảm và tiết kiệm chi phí thu mua, vận chuyển. Mặc dù vậy, hiện vẫn có rất ít các mô hình liên kết xây dựng CĐL thành công, việc thực hiện liên kết gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là thiếu các HTX nông nghiệp hoạt động hiểu quả để liên kết với doanh nghiệp, có thể giúp doanh nghiệp chuyển giao, đào tạo nông dân áp dụng quy trình kỹ thuật (QTKT) sản xuất. Cũng theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT, thì hiện cả nước chỉ có khoảng 10% HTX nông nghiệp (trong tổng số gần 11 nghìn HTX nông nghiệp) có liên kết với doanh nghiệp để tiêu thụ sản phẩm cho hộ nông dân. Phần lớn, người nông dân phải tự lo liệu tìm cách tiêu thụ sản phẩm cho các thương lái, dẫn đến gặp nhiều rủi ro, ảnh hưởng đến thu nhập của người nông dân.
Với những vấn đề đặt ra từ thực tiễn cho thấy, việc hỗ trợ nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động cho các HTX nông nghiệp để phát triển liên kết xây dựng CĐL là yêu cầu cấp bách. Nâng cao vai trò của HTX nông nghiệp trong liên kết xây dựng CĐL phù hợp với định hướng của Đảng, nhà nước và những yêu cầu thực tiễn phát triển sản xuất nông nghiệp. Các doanh nghiệp nông nghiệp cũng cần liên kết với HTX nông nghiệp để có đủ nguyên liệu đầu vào, sản phẩm có chất lượng, quy chuẩn để có thể đáp ứng được đòi hỏi của thị trường. Trên phương diện lý luận, với bản chất là tổ chức kinh tế tập thể, HTX nông nghiệp giúp khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá tập trung quy mô lớn.
HTX nông nghiệp là đơn vị điều phối, tổ chức các hành động tập thể trong sản xuất kinh doanh cho các thành viên của mình để có thể sản xuất ra khối lượng sản phẩm đủ lớn, đồng đều về chất lượng, đáp ứng yêu cầu của thị trường. HTX nông nghiệp còn là tác nhân trung gian chủ đạo, đóng vai trò khâu nối và thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị, giúp doanh nghiệp có nguồn nguyên liệu đầu vào ổn định, đảm bảo chất lượng phục vụ chế biến và kinh doanh. Kinh nghiệm thực tiễn trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng liên kết xây dựng CĐL có HTX nông nghiệp sẽ giúp đem lại nhiều lợi ích cho các bên tham gia: Doanh nghiệp thu mua được nguyên liệu ổn định với số lượng lớn, đảm bảo chất lượng, đồng thời giảm bớt chi phí, công sức liên kết. Người nông dân giảm được chi phí sản xuất, 3 bán được sản phẩm thuận lợi, đồng thời tăng vị thế, tiếng nói của mình đối với doanh nghiệp.
Các HTX nông nghiệp tổ chức sản xuất quy mô lớn, hoạt động hiệu quả trong điều kiện tư liệu đất đai thuộc quyền sử dụng lâu dài của các hộ thành viên. Thời gian qua đã có rất nhiều các bài viết, các công trình nghiên cứu liên quan đến vai trò của HTX nông nghiệp, hoặc liên quan đến phát triển liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị. Mặc dù vậy, có rất ít công trình nghiên cứu một cách bài bản về vai trò của HTX nông nghiệp trong liên kết xây dựng CĐL. Đã có rất nhiều bài viết trên các trang báo, hoặc một số nghiên cứu khẳng định sự cần thiết của HTX nông nghiệp trong phát triển liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản.
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều chưa luận giải được có sở lý luận cũng như thực tiễn về vai trò của HTX nông nghiệp trong liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, xây dựng cánh đồng lớn như thế nào? Sự tham gia tích cực của HTX nông nghiệp liệu có giúp liên kết và xây dựng CĐL trở lên dễ dàng, thuận lợi hơn và đem lại nhiều lợi ích hơn so với các hình thức liên kết khác không? Những vấn đề này hiện vẫn còn bỏ ngỏ và rất cần được luận giải, chứng minh khoa học trong thực tiễn. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất lúa hàng hóa lớn nhất cả nước với khoảng 1,8 triệu ha diện tích đất canh tác lúa, tương đương 3,8 triệu ha gieo trồng lúa hàng năm. Mỗi năm sản lượng lúa của ĐBSCL đạt xấp xỉ 29 triệu tấn, bằng 40% tổng sản lượng lúa gạo của cả nước và đóng góp đến 90% sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, với quy mô sản xuất nhỏ lẻ (gần 2 triệu hộ sản xuất lúa, trung bình chỉ 0,87 ha/hộ), sản xuất không xuất phát từ tín hiệu thị trường nên chất lượng gạo không đồng đều và chất lượng chưa cao, dẫn đến sức cạnh tranh kém trên thị trường quốc tế, nhất là về giá bán.
Bên cạnh đó, việc hình thành các chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm giữa nông dân, các tổ chức của nông dân, các doanh nghiệp còn có nhiều hạn chế. Việc liên kết xây dựng CĐL sản xuất lúa gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2017: diện tích lúa liên kết CĐL của toàn vùng ĐBSCL tính đến hết năm 2016 mới chỉ đạt 11% tổng diện tích canh tác lúa của vùng; tỷ lệ thành công hợp đồng liên kết tiêu thụ lúa trên CĐL mới chỉ đạt 30% do tình trạng doanh nghiệp hoặc nông dân “bẻ kèo” vẫn còn phổ biến. Một trong những nguyên nhân chính là do thiếu vai trò của các HTX nông nghiệp.
ĐBSCL là vùng có phong trào HTX phát triển mạnh, tuy nhiên, theo số liệu thống kê từ báo cáo của 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL thì đến năm 2016 toàn vùng mới chỉ có 110 HTX (chiếm 8,8% tổng số HTX nông nghiệp cả vùng) thực hiện liên kết xây dựng CĐL sản xuất lúa. Do thiếu các tổ chức nông dân đủ mạnh như các HTX 4 nông nghiệp nên người nông dân trồng lúa vẫn chủ yếu phải tự sản xuất và bán sản phẩm cho thương lái, do đó người nông dân chịu nhiều thua thiệt và rủi ro. Với những lý do đó, nghiên cứu “Vai trò của hợp tác xã nông nghiệp trong liên kết xây dựng cánh đồng lớn sản xuất lúa ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long” là cần thiết. Nghiên cứu nhằm luận giải rõ các những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam về vai trò của HTX nông nghiệp trong liên kết xây dựng CĐL sản xuất lúa ở vùng ĐBSCL.
Nghiên cứu góp phần luận giải những tồn tại, khó khăn trong phát triển HTX nông nghiệp, xây dựng CĐL hiện nay, cũng như trong liên kết sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Theo Eaton, C. and Shepperd (2001), có 07 hình thức liên kết giữa nông dân với thị trường: i) liên kết giữa nông dân với thương lái; ii) liên kết giữa nông dân với người bán lẻ; iii) liên kết thông qua đại diện nông dân; iv) liên kết thông qua HTX; v) liên kết giữa nông dân và nhà chế biến; vi) liên kết giữa nông dân và nhà xuất khẩu; vii) liên kết theo hợp đồng.
Như vậy, vai trò của HTX nông nghiệp trong liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản là một hình thức của liên kết kinh tế. Tuy nhiên, vai trò của HTX nông nghiệp trong liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản có những vấn đề riêng của nó.