CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MỨC ĐỘ NÉ TRÁNH VÀ LO LẮNG GẮN BÓ, CHẤT LƯỢNG HÔN NHÂN VÀ ĐIỀU TIẾT CẢM XÚC 1. Định nghĩa các khái niệm 1. Chất lượng hôn nhân Mặc dù được nghiên cứu hơn tám thập kỷ qua, chất lượng hôn nhân vẫn chưa có sự thống nhất về mặt khái niệm. Siti và cs (2019) trong một nghiên cứu tổng quan tài liệu về khái niệm chất lượng hôn nhân cho thấy, chất lượng hôn nhân là mức độ xuất sắc trong hôn nhân dựa trên các đặc điểm hoặc tiêu chí nhất định.
Những đặc điểm và tiêu chí có thể khác nhau giữa các nơi; các giai đoạn khác nhau của hôn nhân; sự đa chiều kích (như chiều kích cá nhân liên quan tới sự hạnh phúc, hài lòng và chiều kích liên cá nhân liên quan tới sự thân mật, đồng tình, tình dục, hòa hợp, xung đột, bất đồng…). Trong khi đó các yếu tố tác động tới chất lượng hôn nhân bao gồm yếu tố cá nhân như tính cách, giới tính, tôn giáo và yếu tố liên quan tới mối quan hệ như kinh tế, phong cách giao tiếp. Do đó, các nhà nghiên cứu vẫn còn cơ hội để phát triển khái niệm chất lượng hôn nhân phù hợp với bối cảnh của địa phương. Đặc điểm gắn bó Sự gắn bó của người lớn được hình thành bắt đầu từ mối quan hệ tình cảm giữa người lớn này với người lớn khác (Bowlby, 1971).
Thiết lập một mối quan hệ sẽ hình thành các kiểu gắn bó, tùy thuộc vào thời gian của cặp đôi trong một mối quan hệ. Trong mối quan hệ người lớn cũng như trong mối quan hệ con cái và cha mẹ, sự hiện diện hay vắng mặt của đối tượng gắn bó phụ thuộc nhiều vào mức độ phát triển của một mối quan hệ. Trong mối gắn kết của kiểu gắn bó tuổi trưởng thành, chất lượng của mối liên kết bao gồm ba yếu tố; 1) cá nhân sẽ tìm cách tiếp xúc với đối tượng gắn bó khi bị căng thẳng, 2) lo lắng sẽ giảm đi và sự thoải mái sẽ tăng lên khi có sự hiện diện đối tượng gắn bó, 3) sự tách biệt và mất liên lạc với đối tượng gắn bó gây khó chịu (Weiss, 1982; trong Lankler Tr. Gắn bó an toàn có thể được mô tả là trải nghiệm đến từ việc “xem xét các đối tượng gắn bó là có thể tiếp cận và đáp ứng được”, trong khi sự gắn bó không 7 an toàn được mô tả là trải nghiệm đáng buồn của việc ngắt kết nối nhất quán khỏi đối tượng gắn bó (Mikulincer và Shaver, 2007; Tr.
Điều tiết cảm xúc Gratz and Roemer (2004) nêu ra điều tiết cảm xúc có thể được khái niệm hóa như liên quan đến (a) nhận thức và hiểu biết về cảm xúc, (b) chấp nhận cảm xúc, (c) khả năng kiểm soát các hành vi bốc đồng và hành xử phù hợp với mục tiêu mong muốn khi trải qua cảm xúc tiêu cực, và (d) khả năng sử dụng các chiến lược điều tiết cảm xúc linh hoạt và phù hợp với tình huống để đáp ứng các mục tiêu cá nhân và nhu cầu của tình huống (Tr. Do đó, điều tiết cảm xúc không được hiểu là một khái niệm đơn lẻ, mà là một khái niệm bao gồm những khía cạnh này. Tổng quan về các nghiên cứu về chất lượng hôn nhân Sau khi kết hôn, cặp đôi tương tác một cách hài hòa để đạt được các mục tiêu chung sống (Duvall, 1977). Mối gắn kết vợ chồng làm nảy sinh những vai trò và nhu cầu mới, cũng như quyền và nghĩa vụ để thỏa mãn những nhu cầu ấy ở cả vợ và chồng.
Cả vợ và chồng đều có nhu cầu nhận được tình cảm yêu thương và sự quan tâm, cảm giác an toàn, được hiểu và sự gần gũi thân mật. Do đó, cặp đôi cùng có nghĩa vụ để đáp ứng các nhu cầu của người kia. Chất lượng hôn nhân được định nghĩa là sự đánh giá tổng thể về cuộc hôn nhân theo nhiều khía cạnh (Fincham & Bradbury, 1987), bao gồm cái nhìn tích cực hay tiêu cực về hôn nhân (ví dụ: hỗ trợ hay căng thẳng; Burman & Margolin, 1992; Fincham, Beach, & Kemp-Fincham, 1997; Slatcher, 2010), thái độ, hành vi và kiểu hình tương tác (Bradbury, Fincham, & Beach, 2000). Do đó, chất lượng hôn nhân cao đặc trưng bởi sự hài lòng cao, thái độ đối với bạn đời chủ yếu là tích cực và mức độ của hành vi chống đối và tiêu cực thấp.
Ngược lại, chất lượng hôn nhân thấp đặc trưng bởi sự hài lòng thấp, thái độ đối với bạn đời chủ yếu là tiêu cực và mức độ của hành vi chống đối và tiêu cực cao. Theo Scheeren và cộng sự (2014), chất lượng hôn nhân đề cập đến mức độ hài lòng, tin tưởng, tôn trọng và quan tâm mà vợ chồng chia sẻ trong mối quan hệ của họ. Khái niệm này cho thấy rằng, nó là đa yếu tố và do đó, các nghiên cứu kết hợp các biến số nguồn lực cá nhân của vợ 8 hoặc chồng, các quá trình thích ứng của họ và bối cảnh của họ là cần thiết (Mosmann, Wagner; Féres-Carneiro, 2006; Comin & Santos, 2009). Theo Hương (2018), một cuộc hôn nhân có chất lượng là cuộc hôn nhân đem lại cho vợ chồng cảm giác hạnh phúc, hài lòng, thỏa mãn với cuộc sống hôn nhân của mình.
Sự hài lòng hôn nhân là một khía cạnh của chất lượng hôn nhân. Gelles (1995) cho rằng sự hài lòng về hôn nhân là sự đánh giá chủ quan của cá nhân. Với Bahr, sự hài lòng về hôn nhân phản ánh mức độ kỳ vọng của một cá nhân về cuộc hôn nhân của họ (Bahr, 1989; Gelles, 1995). Còn theo Hendrick (1997), sự hài lòng trong hôn nhân là thái độ liên quan tới chất lượng của mối quan hệ và là một quá trình dễ bị thay đổi theo thời gian.
Sự hài lòng hôn nhân là một trong những chỉ báo quan trọng của sự hạnh phúc và sức khoẻ (Diener, 1984; Kamp Dush, Taylor& Kroeger, 2008). Chất lượng hôn nhân ở mức cao có tương quan tích cực đến cả tình trạng khoẻ mạnh, hạnh phúc hiện tại và sau này của các cặp đôi. Sự hài lòng hôn nhân là một bộ phận, một khía cạnh của hài lòng cuộc sống (Nguyễn Thị Vân Hạnh, 2013). Ngược lại, chức năng hôn nhân kém có thể tác động tiêu cực đến sức khỏe thể lý và tâm thần (Kiecolt Glaser & Newton, 2001; Whisman, 2007) và sự bất mãn trong hôn nhân có thể khiến các cặp vợ chồng đứng trước nguy cơ ly hôn cao (Gottman & Levenson, 1992).
Các nghiên cứu cho thấy các vấn đề như hôn nhân căng thẳng, xung đột, mâu thuẫn và sự không hài lòng, có liên quan đáng kể tới các vấn đề của sức khỏe thế chất như mệt mỏi mãn tính (Goodwin, 1997), xơ vữa động mạch (Gallo và cộng sự, 2003), tăng huyết áp (Wickrama et al., 2001); và sức khỏe tinh thần như trầm cảm, lo âu, lạm dụng chất kích thích (Whisman, 2007), và thậm chí tử vong (Coyne et al. Chất lượng hôn nhân ảnh hưởng tới cả thể chất (Proulx & Synyder-Rivas, 2013) và tinh thần (Beach & Whisman, 2012), do đó việc cải thiện chất lượng hôn nhân trở thành mối quan tâm sâu sắc của sức khỏe cộng đồng (Sanberg et al. 9 Có nhiều mô hình về chất lượng hôn nhân đã được các nhà nghiên cứu đưa ra. Rusbult (1983) đưa ra mô hình về sự cam kết và ổn định trong mối quan hệ.
Mô hình này cho rằng, mức độ cam kết là chức năng trọng tâm của cặp đôi, quá trình thích ứng và xác suất duy trì mối quan hệ. Cam kết là sự thể hiện ý định duy trì mối quan hệ lâu bền dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào và nó được coi là yếu tố dự báo quan trọng cho sự ổn định của hôn nhân. Cam kết là kết quả đến từ ba yếu tố: Sự hài lòng trong mối quan hệ, đầu tư vào mối quan hệ và chất lượng của các lựa chọn thay thế cho mối quan hệ. Karney và Bradbury (1995) đưa ra mô xác định ba yếu tố tích hợp để nghiên cứu về chất lượng và sự ổn định của hôn nhân bao gồm: Quá trình thích ứng, sự kiện căng thẳng và khả năng chịu đựng tổn thương.
Nó đề xuất chất lượng hôn nhân ảnh hưởng đến sự ổn định của hôn nhân và có mối quan hệ qua lại giữa chất lượng hôn nhân và các quá trình thích ứng, cũng như có mối quan hệ qua lại giữa quá trình thích ứng và các sự kiện gây căng thẳng. Mô hình này bổ sung thêm lý thuyết hành vi, coi các tương tác trong hôn nhân là cốt lõi của chất lượng hôn nhân, bằng cách xem xét vai trò của các quá trình thích ứng với hoàn cảnh và tình huống mới. Các sự kiện căng thẳng được xem như là môi trường thử nghiệm của hôn nhân. Các cặp vợ chồng thường tìm ra giá trị đích thực của cuộc hôn nhân khi họ phải đương đầu với một hoặc nhiều sự kiện căng thẳng.
Với các quan điểm và mô hình về chất lượng hôn nhân như đã nêu ở trên, đề tài này xây dựng định nghĩa về chất lượng hôn nhân như sau: Chất lượng hôn nhân là mức độ hài lòng, quan tâm và thấu hiểu mà vợ chồng chia sẻ cho nhau; khả năng điều tiết và định hướng hành vi tích cực khi có căng thẳng và xung đột, cũng như mức độ cam kết gắn bó lâu bền trong hôn nhân. Mối quan hệ giữa mức độ né tránh và lo lắng gắn bó ở tuổi trưởng thành và chất lượng hôn nhân Một yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của các mối quan hệ thân mật ở tuổi trưởng thành trong đó có hôn nhân, là kiểu gắn bó của mỗi cá nhân trong mối quan hệ (Feeney, 1996; Jacobsen, 2003; Marchand, 2004). Gắn bó được xem là một biến số chính giải thích cho biến nguồn lực cá nhân trong chức năng hôn nhân (Bradbury và cộng sự, 2000). Lý thuyết gắn bó cung cấp cơ sở lý thuyết để hiểu về các vấn đề tương quan thân mật, trong đó có quan hệ hôn nhân.
Bowlby định nghĩa gắn bó là “mối liên hệ tâm lý lâu dài giữa con người với nhau. Gắn bó là mối gắn kết hình thành sớm trong cuộc sống giữa cá nhân và người chăm sóc chính của trẻ” (John Bowlby, 1979, Tr.149), và đã được mô tả theo ba phong cách (an toàn, lo lắng - né tránh và lo lắng-hỗn loạn) dựa trên thực nghiệm về cặp mẹ và trẻ sơ sinh của Ainsworth, Blehar, Waters và Wall's (1978). Lý thuyết gắn bó giả định rằng sự phát triển của mối gắn kết bắt nguồn từ các mô thức bên trong của bản thân và người khác.