Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay" được tác giả Nguyễn Thị Thu Hà thực hiện tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2007 thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật (mã số: 62.01). Công trình được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Đăng Dung và sự đánh giá của hội đồng gồm 3 nhà khoa học phản biện: PGS. Lê Minh Thông, PGS. Võ Khánh Vinh và PGS. Nguyễn Văn Động.

Bối cảnh thực tiễn của công trình xuất phát từ thực trạng quản lý hành chính - kinh tế tại 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam sau 20 năm đổi mới. Quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã làm bộc lộ sự phân hóa rõ nét về năng lực phát triển giữa các địa phương. Một số tỉnh, thành phố như Bình Dương, Đà Nẵng, Cần Thơ, Biên Hòa, Đồng Nai đã chủ động phát huy nội lực, cải thiện môi trường đầu tư và đạt tốc độ tăng trưởng cao; trong khi đó, nhiều địa phương có lợi thế tương đồng lại tiến triển chậm do lãnh đạo còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào ngân sách trung ương hoặc vướng phải tình trạng cục bộ, mất đoàn kết. Đồng thời, nền kinh tế thị trường phát sinh nhiều mặt trái như buôn lậu, gian lận thương mại, tiêu cực thuế, phân hóa giàu nghèo và suy thoái đạo đức công vụ. Trong khi đó, hệ thống pháp luật quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp tỉnh còn bộc lộ nhiều điểm chồng chéo, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hội nhập quốc tế.

Ký hiệu viết tắt Cụm từ đầy đủ
PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
CNXH / XHCN Chủ nghĩa xã hội / Xã hội chủ nghĩa
DNNN / DNTN Doanh nghiệp nhà nước / Doanh nghiệp tư nhân
HĐND / UBND Hội đồng nhân dân / Ủy ban nhân dân
TPTTTW Thành phố trực thuộc trung ương
GCN QSD đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
VNCI Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Việt Nam
WB / WTO / APEC Ngân hàng Thế giới / Tổ chức Thương mại Thế giới / Diễn đàn hợp tác Châu Á - Thái Bình Dương

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là trên cơ sở hệ thống hóa các vấn đề lý luận và đánh giá thực tiễn quá trình hiện thực hóa vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm khắc phục hạn chế và phát huy vai trò của cấp chính quyền này trong thời kỳ đổi mới.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể theo 3 nội dung:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế thị trường và vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; làm rõ những thay đổi căn bản về vai trò của chính quyền cấp tỉnh qua hai giai đoạn kinh tế; chuẩn hóa các khái niệm lý luận liên quan như vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.
  2. Đánh giá thực trạng quá trình hiện thực hóa vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong thực tiễn nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, chỉ ra các mặt đạt được, các hạn chế tồn tại và nguyên nhân chủ yếu.
  3. Đề xuất các quan điểm và nhóm giải pháp cơ bản nhằm khắc phục tồn tại, nâng cao vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong bối cảnh đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án tập trung vào vai trò của chính quyền cấp tỉnh tại Việt Nam, cụ thể gồm ba thiết chế: Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Phạm vi khảo sát gắn liền với không gian 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tiến trình đổi mới kinh tế từ sau năm 1986 đến năm 2007.


Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án phân loại các công trình nghiên cứu tiền nhiệm thành ba nhóm hướng tiếp cận chính:

Nhóm nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương:

  • PGS. Nguyễn Đăng Dung với công trình "Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương", tập trung giải quyết các vấn đề lý luận về quản lý lãnh thổ, mối tương quan giữa chính quyền trung ương và địa phương, đồng thời chỉ ra tính chất của tỉnh là một cấp chính quyền nhân tạo nhưng mang tính truyền thống và có bề dày lịch sử lớn gần như cấp xã.
  • TS. Lưu Kiếm Thanh với công trình "Tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền TPTTTW" cùng các nghiên cứu phối hợp với tác giả Vũ Đức Đán về quyền lực nhà nước, việc tổ chức thực hiện quyền lực và cơ sở phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ.
  • TS. Huỳnh Văn Thới với bài viết "Bàn về mô hình tổ chức bộ máy chính quyền ở TPTTTW", luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn của chính quyền đô thị, trong đó nêu phương án tổ chức HĐND chỉ ở cấp tỉnh.

Nhóm nghiên cứu về nhiệm vụ, thẩm quyền của chính quyền địa phương:

  • Tác giả Vũ Hữu Kháng với bài viết "Phân định thẩm quyền của Chủ tịch UBND và tập thể UBND", phân tích trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch và cơ chế thảo luận tập thể, quyết định theo đa số của UBND.
  • Tác giả Trương Đắc Linh với bài viết "Chính quyền địa phương với việc bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật", đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ sở pháp lý và năng lực ban hành văn bản quy phạm pháp luật tại địa phương.
  • Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) với tập chuyên đề "Bàn về thẩm quyền, thủ tục và trình tự ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương".

Nhóm nghiên cứu về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN:

  • TS. Trần Thái Dương với tác phẩm "Chức năng kinh tế của Nhà nước, lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay", so sánh chức năng kinh tế giữa hai mô hình kế hoạch hóa tập trung và kinh tế thị trường.
  • GS. Lương Xuân Quỳ với công trình "Quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam", nhấn mạnh phân định thẩm quyền và xây dựng quy hoạch vùng.
  • Nhóm tác giả Nguyễn Ký, Nguyễn Hữu Đức, Đinh Xuân Hà với cuốn sách "Đổi mới nội dung hoạt động của các cấp chính quyền địa phương trong kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế".
  • GS. Hoàng Văn Hảo với bài viết "Tìm hiểu vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường"; tác giả Vũ Ngọc Nhung với nghiên cứu "Vai trò của Nhà nước trong kinh tế thị trường theo định hướng XHCN"; và tác giả Vũ Anh Tuấn với bài viết "Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường", luận giải vị thế của nhà nước với tư cách là chủ thể "trong" thị trường và "trên" thị trường.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về bộ máy chính quyền địa phương nói chung hoặc chức năng kinh tế của nhà nước ở cấp độ vĩ mô, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về vai trò của chính quyền cấp tỉnh (gồm HĐND, UBND và hệ thống sở, ban, ngành) gắn liền với bối cảnh vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách kết hợp khung lý thuyết luật học với phân tích thực tiễn thể chế và các chỉ số kinh tế - hành chính.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên hệ thống các khái niệm pháp lý và tư tưởng khoa học chính trị:

  • Khái niệm vai trò (role): Luận án tham chiếu định nghĩa từ Từ điển Bách khoa minh họa của Mỹ (The American Heritage Illustrated Encyclopedic Dictionary) và Bộ Bách khoa Thế giới mới của Webster (Webster’s New World Encyclopedia) để xác định vai trò là những phần việc cơ bản, trọng trách chủ yếu mà một chủ thể nắm giữ, mang tính khái quát, bao trùm và phản ánh tầm quan trọng của chủ thể trong tương quan so sánh với các chủ thể khác.
  • Phân biệt thuật ngữ pháp lý: Luận án phân định rõ: "Nhiệm vụ" là công việc cụ thể phải gánh vác trong một thời hạn nhất định; "Quyền hạn" là quyền theo cương vị, chức vụ được pháp luật cho phép; "Chức năng" là nhiệm vụ tổng quát, thường xuyên phản ánh phương diện hoạt động; "Vị trí" thể hiện địa vị, chỗ đứng trong một hệ thống tổ chức. Vai trò được thực hiện thông qua một hoặc nhiều chức năng, và các chức năng được cụ thể hóa bằng các nhiệm vụ, thẩm quyền pháp lý cụ thể.
  • Tư tưởng về giới hạn và chức năng quản trị nhà nước: Luận án phân tích luận điểm của John Locke trong tác phẩm "Hai chuyên luận về chính quyền" (1690 - Two Treaties of Government) về việc giới hạn quyền lực nhà nước để bảo vệ quyền tự nhiên của con người; tư tưởng của Jean-Jacques Rousseau trong "Khế ước xã hội" (1762 - The Social Contract) về chủ quyền nhân dân; nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng; các phân tích của GS. Pitman Potter (Đại học British Columbia, Canada) về vai trò của nhà nước trong điều hòa lợi ích thời kỳ toàn cầu hóa APEC; và quan điểm của GS. Đoàn Trọng Truyến về phương thức quản lý nhà nước để giữ vững định hướng XHCN.

Phương pháp luận chỉ đạo toàn bộ nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp so sánh: So sánh lịch sử giữa mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung và kinh tế thị trường định hướng XHCN; so sánh giữa cấp tỉnh với cấp huyện và cấp xã; so sánh thể chế chính quyền địa phương Việt Nam với các nước:
    • Inđônêxia: Mô hình 4 cấp (tỉnh, huyện, xã/phường, làng/khu phố), trong đó cả nước có 27 tỉnh; Tỉnh trưởng do Tổng thống bổ nhiệm nhiệm kỳ 5 năm trên cơ sở đề cử của Hội đồng tư vấn nhân dân tỉnh.
    • Philippin: Mô hình 3 cấp (tỉnh/thành phố lớn; thành phố/thị xã; xã/phường); Hội đồng dân cử nhiệm kỳ 3 năm (không quá 3 nhiệm kỳ liên tiếp); cơ chế điều hành trực tiếp của Tỉnh trưởng và Thị trưởng.
    • Pháp: Luật phân quyền năm 1982 quy định quyền tự quản của địa phương kết hợp với hệ thống cơ quan tản quyền của trung ương đặt dưới sự chỉ đạo của Tỉnh trưởng.
    • Thụy Điển: Cơ chế tự chủ địa phương, việc ban hành đạo luật tháng 12/1992 cho phép tư nhân bao thầu các dịch vụ xã hội; chính quyền địa phương sở hữu khoảng 1.000 công ty và hơn 300 quỹ hoạt động trong các lĩnh vực kỹ thuật, điện lực và quản lý tài sản.
    • Na Uy: Hội đồng tỉnh là cơ quan cao nhất do cử tri bầu trực tiếp theo nhiệm kỳ 4 năm, họp quyết định ngân sách hằng năm và thông qua kế hoạch hoạt động 4 năm một lần.
    • Trung Quốc: Quá trình chuyển đổi sang thể chế "kinh tế thị trường XHCN" từ Đại hội 14 Đảng Cộng sản Trung Quốc (tháng 10/1992) với hệ thống chính quyền địa phương 3 cấp gồm 22 tỉnh.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và đánh giá: Sử dụng để hệ thống hóa dữ liệu pháp luật, các nghị quyết của Đảng và văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.
  • Phương pháp điều tra xã hội học và khảo sát thực tế: Thu thập dữ liệu thực tế về môi trường đầu tư, các chỉ số quản trị địa phương, các vụ việc vi phạm và phản hồi từ các chủ thể sản xuất kinh doanh tại 64 tỉnh, thành phố.

Nguồn tư liệu sử dụng gồm: Các bản Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi); Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1983, năm 2003; Nghị quyết số 245-NQ/TW ngày 20/9/1975 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP ngày 30/6/2004 của Chính phủ; Nghị định số 171/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 của Chính phủ; số liệu điều tra chỉ số PCI từ VCCI và Dự án VNCI.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những thay đổi cơ bản trong vai trò của chính quyền cấp tỉnh khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

Chương 1 tập trung làm rõ cơ sở lý luận về kinh tế thị trường, vị trí pháp lý và sự thay đổi vai trò của chính quyền cấp tỉnh qua hai thời kỳ phát triển của đất nước:

  • Bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN: Luận án phân tích sự khác biệt giữa hai mô hình kinh tế trong thế kỷ XX. Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, vận hành theo quy luật giá cả, cung cầu, cạnh tranh. Kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam dựa trên chế độ sở hữu công cộng về các tư liệu sản xuất chủ yếu, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Nhà nước đóng vai trò "bà đỡ", kiến tạo môi trường pháp lý, quản lý bằng quy hoạch, kế hoạch vĩ mô thay vì can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
  • Vị trí pháp lý của chính quyền cấp tỉnh: Luận án khẳng định phân chia lãnh thổ và thiết lập chính quyền địa phương là thuộc tính tất yếu của nhà nước. Trong hệ thống hành chính 4 cấp của Việt Nam (trung ương, tỉnh, huyện, xã), cấp tỉnh là cấp đầu tiên trong hệ thống chính quyền địa phương, giữ vị trí trung gian mang tính chiến lược nối liền trung ương với cơ sở.
  • Sự chuyển đổi vai trò qua hai giai đoạn lịch sử:
    • Thời kỳ kế hoạch hóa tập trung: Theo Hiến pháp 1980 (các Điều 33, 113, 114, 121), Nhà nước quản lý kinh tế bằng kế hoạch pháp lệnh thống nhất. Thực hiện Nghị quyết số 245-NQ/TW ngày 20/9/1975 của Bộ Chính trị về việc bỏ khu, nhập tỉnh, 52 tỉnh được hợp nhất thành 21 tỉnh (cộng 8 tỉnh giữ nguyên và 4 TPTTTW, tổng cộng 33 đơn vị hành chính trực thuộc trung ương). Do địa bàn quá rộng, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ cán bộ hạn chế, mô hình này dẫn đến tình trạng quan liêu, trì trệ và xuất hiện mâu thuẫn nội bộ. Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1983 quy định UBND cấp tỉnh có từ 11 đến 17 ủy viên, nhưng HĐND không có cơ quan thường trực nên hoạt động mang tính hình thức, chính quyền cấp tỉnh thụ động chấp hành chỉ tiêu trung ương giao.
    • Thời kỳ đổi mới: Xu hướng chia tách tỉnh diễn ra từ cuối những năm 1980 đến năm 1996, tái lập lại các đơn vị hành chính hợp lý hơn. Theo Hiến pháp 1992 sửa đổi và Nghị quyết số 08/2004/NQ-CP ngày 30/6/2004 của Chính phủ, chính quyền cấp tỉnh được chuyển đổi thành cấp tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong phạm vi phân cấp trên 6 lĩnh vực (quy hoạch - kế hoạch - đầu tư; ngân sách; đất đai - tài nguyên - tài sản; DNNN; dịch vụ công; tổ chức bộ máy và cán bộ công chức). Cơ cấu chuyên môn được kiện toàn theo Nghị định số 171/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 quy định khung các sở ban ngành trực thuộc UBND tỉnh.
  • Hai nội dung trọng tâm về vai trò của chính quyền cấp tỉnh:
    1. Là cấp quan trọng nhất trong hệ thống chính quyền địa phương triển khai thực hiện chính sách, pháp luật của trung ương về phát triển kinh tế thông qua việc ban hành quy hoạch, kế hoạch phát triển trung và dài hạn phù hợp với đặc thù địa phương.
    2. Là cấp quan trọng nhất trong việc khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường tại địa phương, bao gồm việc kiến tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, đầu tư kết cấu hạ tầng, chống gian lận thương mại và thực hiện chính sách an sinh xã hội.

Chương 2: Thực trạng vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 đi sâu khảo sát, phân tích việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp tỉnh trên địa bàn cả nước:

  • Thực trạng triển khai chính sách, pháp luật phát triển kinh tế: Phân tích sự phân hóa giữa các nhóm địa phương. Các tỉnh dẫn đầu về chỉ số năng lực cạnh tranh (như Bình Dương) đã tích cực cải cách thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng, ban hành các chính sách linh hoạt thu hút vốn FDI và doanh nghiệp tư nhân. Ngược lại, một số địa phương còn lúng túng trong quy hoạch, xảy ra hiện tượng quy hoạch "treo", quy hoạch ngành xung đột với quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội.
  • Thực trạng khắc phục khuyết tật thị trường: Khảo sát các vi phạm pháp luật kinh tế trên địa bàn cấp tỉnh như tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế, sự thiếu minh bạch trong cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN QSD đất) và thỏa hiệp tiêu cực giữa một bộ phận cán bộ thuế với doanh nghiệp. Đánh giá việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với xóa đói giảm nghèo, bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển văn hóa - xã hội tại địa phương.
  • Các nhân tố tác động đến quá trình thực hiện vai trò:
    • Nhân tố thể chế: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của trung ương còn nhiều điểm chồng chéo, phân định thẩm quyền giữa trung ương và cấp tỉnh, giữa Chủ tịch UBND và tập thể UBND chưa thật sự rõ ràng.
    • Nhân tố con người: Trình độ, phẩm chất, tính năng động, sáng tạo của đội ngũ cán bộ lãnh đạo và công chức chuyên môn cấp tỉnh; hiện tượng suy thoái đạo đức, tư tưởng cục bộ địa phương ở một số bộ phận.
    • Mối quan hệ liên kết: Thiếu cơ chế phối hợp kinh tế liên vùng giữa các tỉnh lân cận và mối liên hệ chỉ đạo điều hành giữa cấp tỉnh với cấp huyện, xã.

Chương 3: Quan điểm, giải pháp khắc phục tồn tại và phát huy vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện dựa trên đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước:

  • Tính tất yếu và quan điểm chỉ đạo: Khẳng định yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức quản lý của cấp tỉnh trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và hoàn thiện thể chế Nhà nước pháp quyền.
  • Bốn nhóm giải pháp cơ bản:
    1. Đẩy mạnh phân cấp quản lý: Thực hiện phân cấp rành mạch giữa Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh theo tinh thần Nghị quyết 08/2004/NQ-CP. Thực hiện nguyên tắc việc nào cấp tỉnh làm tốt hơn và sát thực tế hơn thì phân giao toàn diện thẩm quyền và trách nhiệm cho cấp tỉnh, đi đôi với cơ chế thanh tra, kiểm tra của trung ương.
    2. Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI): Cải cách thủ tục hành chính, tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế; tập trung xử lý dứt điểm tình trạng quy hoạch "treo", công khai quy hoạch sử dụng đất và các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp.
    3. Bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội vì mục tiêu phát triển con người: Điều tiết ngân sách hợp lý cho các chương trình mục tiêu xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực và bảo vệ môi trường sinh thái, giữ vững định hướng XHCN trong quá trình tăng trưởng kinh tế.
    4. Đổi mới công tác tổ chức - nhân sự của chính quyền cấp tỉnh: Nâng cao năng lực và chuẩn hóa tiêu chuẩn công chức; xác định rõ thẩm quyền cá nhân của Chủ tịch UBND tỉnh; nghiên cứu thiết lập mô hình "Ủy ban phát triển vùng" nhằm tăng cường điều phối kinh tế, khắc phục tình trạng chia cắt địa giới hành chính giữa các tỉnh trong cùng vùng kinh tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án chỉ rõ những kết quả và đóng góp mới trên hai phương diện lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận:

    • Luận chứng một cách có hệ thống về bản chất khoa học của vai trò chính quyền cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xác định chính quyền cấp tỉnh là cấp trung gian chiến lược mang tính quyết định đến hiệu lực quản lý vĩ mô của nhà nước tại địa phương.
    • Làm rõ ranh giới khoa học giữa các khái niệm pháp lý: phân định rõ vai trò với vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan nhà nước.
    • Phân tích quy luật vận động và sự thay đổi căn bản trong vai trò của chính quyền cấp tỉnh khi chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung (chấp hành thụ động chỉ tiêu pháp lệnh) sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN (chủ thể tự chủ, tự chịu trách nhiệm và kiến tạo môi trường phát triển).
  • Về mặt thực tiễn:

    • Đánh giá toàn diện bức tranh thực trạng năng lực hoạt động của HĐND, UBND và các sở chuyên môn cấp tỉnh tại 64 đơn vị hành chính sau 20 năm đổi mới.
    • Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi cao nhằm phát huy vai trò chính quyền cấp tỉnh: phân cấp quản lý gắn với điều kiện từng vùng lãnh thổ; cải thiện các chỉ số thành phần của năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); xử lý triệt để bất cập về quy hoạch "treo"; và đặc biệt là kiến nghị thành lập thiết chế "Ủy ban phát triển vùng" để giải quyết bài toán liên kết kinh tế vùng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do phạm vi đề tài tập trung vào việc thực thi vai trò quản lý kinh tế - xã hội của chính quyền cấp tỉnh (gồm HĐND, UBND và các cơ quan chuyên môn trực thuộc UBND tỉnh), luận án không đi sâu vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật tại địa phương (Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh), đồng thời mối quan hệ với chính quyền cấp huyện, cấp xã chỉ được khảo sát dưới góc độ tương quan quản trị.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế phân quyền tài khóa chi tiết giữa trung ương và địa phương; hoàn thiện khung pháp lý về quy chế hoạt động của các thiết chế liên kết vùng (Ủy ban phát triển vùng); và nghiên cứu chuyên sâu về mô hình tổ chức chính quyền đô thị đối với các thành phố trực thuộc trung ương trong giai đoạn hội nhập sâu rộng vào WTO và APEC.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nhà hoạch định chính sách và cơ quan lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức HĐND và UBND, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về phân cấp quản lý hành chính - kinh tế giữa trung ương và cấp tỉnh.
  • Cán bộ lãnh đạo và công chức chính quyền địa phương: Đưa ra các gợi ý cụ thể về phương thức điều hành kinh tế, cách thức cải thiện chỉ số PCI, kinh nghiệm xử lý quy hoạch sử dụng đất và các giải pháp chống thất thu ngân sách, gian lận thương mại.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên: Làm tài liệu tham khảo chuyên khảo trong giảng dạy và nghiên cứu các môn học Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Luật Hành chính, Luật Hiến pháp và Khoa học Quản lý công tại các cơ sở đào tạo luật và hành chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Vai trò của chính quyền cấp tỉnh thay đổi căn bản như thế nào giữa thời kỳ kế hoạch hóa tập trung và thời kỳ kinh tế thị trường định hướng XHCN?
Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung (theo Hiến pháp 1980), chính quyền cấp tỉnh là cấp thụ động chấp hành, triển khai các chỉ tiêu, kế hoạch pháp lệnh do trung ương áp đặt bằng mệnh lệnh hành chính. Ngược lại, trong thời kỳ đổi mới kinh tế thị trường định hướng XHCN, chính quyền cấp tỉnh trở thành cấp tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và nhân dân địa phương; chuyển từ quản lý trực tiếp doanh nghiệp sang vai trò kiến tạo, bảo đảm môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng và khắc phục các khuyết tật của thị trường trên địa bàn.

2. Tác giả luận án phân biệt khái niệm "vai trò" với "chức năng", "nhiệm vụ", "quyền hạn" và "vị trí" như thế nào?
Luận án xác định: "Vai trò" là khái niệm rộng, bao trùm, chỉ những trọng trách cơ bản thể hiện bản chất, tầm quan trọng và ảnh hưởng của chủ thể trong tương quan với các chủ thể khác. "Chức năng" nhấn mạnh về phương diện hành động thường xuyên, tổng quát. "Nhiệm vụ" là các công việc cụ thể phải hoàn thành trong thời hạn nhất định để hiện thực hóa chức năng. "Quyền hạn" là giới hạn quyền lực được pháp luật cho phép để thực thi nhiệm vụ. "Vị trí" thể hiện chỗ đứng, địa vị pháp lý của chủ thể trong một hệ thống tổ chức bộ máy.

3. Chủ trương hợp tỉnh sau năm 1975 và việc tách tỉnh sau đó đã để lại những bài học kinh nghiệm gì cho tổ chức bộ máy cấp tỉnh?
Chủ trương hợp tỉnh theo Nghị quyết 245-NQ/TW năm 1975 (hợp nhất 52 tỉnh thành 21 tỉnh, đưa cả nước còn 33 đơn vị hành chính trực thuộc trung ương) xuất phát từ mong muốn chủ quan tạo ra các đơn vị kinh tế lớn, nhưng không phù hợp với thực tế đất nước mới ra khỏi chiến tranh, hạ tầng yếu kém và năng lực cán bộ quản lý còn hạn chế, dẫn đến bộ máy quan liêu, trì trệ và mất đoàn kết nội bộ. Quá trình chia tách tỉnh từ cuối những năm 1980 đến năm 1996 đã đưa quy mô đơn vị hành chính về mức hợp lý, tạo tiền đề để các tỉnh chủ động phát huy tiềm năng và khai thác lợi thế phát triển kinh tế.

4. Luận án đã khảo cứu kinh nghiệm quản trị địa phương của những quốc gia nào?
Luận án khảo sát kinh nghiệm của các nước: Inđônêxia (mô hình 4 cấp hành chính, 27 tỉnh, Tỉnh trưởng do Tổng thống bổ nhiệm); Philippin (mô hình 3 cấp, Hội đồng dân cử nhiệm kỳ 3 năm); Pháp (Luật phân quyền 1982 kết hợp cơ quan tản quyền của Tỉnh trưởng); Thụy Điển (cho phép tư nhân bao thầu dịch vụ công từ năm 1992, chính quyền sở hữu khoảng 1.000 công ty); Na Uy (Hội đồng tỉnh là cơ quan quyền lực cao nhất có nhiệm kỳ 4 năm); và Trung Quốc (mô hình thể chế kinh tế thị trường XHCN từ Đại hội 14 với hệ thống 3 cấp chính quyền địa phương).

5. Đề xuất nổi bật nào được luận án đưa ra nhằm tăng cường liên kết kinh tế giữa các tỉnh trong cùng một khu vực?
Luận án đề xuất nghiên cứu thành lập "Ủy ban phát triển vùng" như một giải pháp tổ chức mới nhằm khắc phục tình trạng cục bộ địa phương, phá vỡ sự chia cắt hành chính và nâng cao hiệu quả phối hợp liên tỉnh trong quy hoạch hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội vùng.


Kết luận

Luận án "Vai trò của chính quyền cấp tỉnh trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà là công trình chuyên khảo pháp lý toàn diện về vị trí và chức năng của chính quyền cấp tỉnh trong giai đoạn đổi mới. Bằng việc phân tích quá trình chuyển đổi lịch sử từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường và đối chiếu kinh nghiệm quốc tế, luận án đã làm rõ cơ sở lý luận cũng như đánh giá thực trạng năng lực quản trị của HĐND, UBND cấp tỉnh. Hệ thống giải pháp được đề xuất về phân cấp quản lý, nâng cao chỉ số PCI, giải quyết quy hoạch và thành lập Ủy ban phát triển vùng có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với công cuộc cải cách hành chính nhà nước tại Việt Nam.