Chương 1 NHỮNG THAY ĐỔI CƠ BẢN TRONG VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH KHI ĐẤT NƢỚC CHUYỂN SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG ĐỊNH HƢỚNG XHCN 1. Kinh tế thị trƣờng và vai trò của Nhà nƣớc trong nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN 1. Kinh tế thị trường Kinh tế thị trƣờng là mô hình kinh tế mà ở đó các quan hệ kinh tế đều đƣợc thực hiện trên thị trƣờng, thông qua quá trình trao đổi mua bán [16, tr. Quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển đến một trình độ nhất định sẽ đạt đến kinh tế thị trƣờng.
Kinh tế thị trƣờng là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hoá, trong đó toàn bộ các yếu tố “ đầu vào” và “ đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trƣờng. Thị trƣờng là tổng thể các quan hệ thực hiện hàng hoá, là nơi diễn ra quá trình trao đổi, thoả thuận giữa ngƣời mua và ngƣời bán 21 z nhằm đi tới thống nhất về giá cả và số lƣợng hàng hoá, dịch vụ đƣợc mua bán. Thị trƣờng cũng có thể đƣợc hiểu là bất kỳ khung cảnh nào trong đó diễn ra việc mua và bán các loại hàng hoá và dịch vụ [128, tr 163]. Thị trƣờng ngày càng phát triển đa dạng theo xu hƣớng phát triển chung của nền sản xuất hàng hoá.
Với sự tiến bộ của thƣơng mại điện tử và công nghệ thông tin ngày nay thì không gian của thị trƣờng là vô tận. Trong những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, sự phát triển của kinh tế hàng hoá chịu sự tác động của các quan hệ xã hội nhất định hình thành nên các chế độ kinh tế - xã hội khác nhau. Do đó, kinh tế hàng hoá không phải là sản phẩm của một chế độ kinh tế - xã hội nào đó mà nó là sản phẩm của một quá trình phát triển của lực lƣợng sản xuất trong xã hội loài ngƣời, nó xuất hiện và tồn tại trong nhiều phƣơng thức xã hội và đến trình độ cao hơn đó là kinh tế thị trƣờng. Nền kinh tế thị trƣờng có những quy luật khách quan, nó đòi hỏi các chủ thể khi tham gia vào nền kinh tế này phải tuân thủ những quy luật đó.
Những đặc trƣng chung của kinh tế thị trƣờng là: - Các chủ thể kinh tế có tính độc lập, tự chủ cao; - Giá cả mặt hàng do thị trƣờng quyết định; - Nền kinh tế vận hành theo các quy luật của kinh tế thị trƣờng; - Nền kinh tế thị trƣờng trong xã hội hiện đại có sự điều tiết của nhà nƣớc. Thế kỷ XX đã chứng kiến cuộc đua tranh giữa hai mô hình kinh tế: mô hình kế hoạch hoá tập trung và mô hình kinh tế thị trƣờng. Tuy nhiên, vào những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX thì câu trả lời cho cuộc đua tranh ấy đã rõ. Mô hình kế hoạch hoá tập trung đã bộc lộ những khiếm khuyết, trong đó đặc biệt là sự tụt hậu về tăng trƣởng kinh tế, từ đó kéo theo những vấn đề về phúc lợi xã hội cũng giảm.
Nhiều nƣớc theo mô hình 22 z kinh tế này đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng và cuối cùng là sự tan rã, xụp đổ của cả một chế độ chính trị. Trong khi đó, mô hình kinh tế thị trƣờng ở nhiều nƣớc của Tây Âu, Bắc Mỹ, lan sang cả lục địa Châu Á đã gặt hái đƣợc nhiều thành công trong phát triển kinh tế. Ngay từ những năm 1960, các nền kinh tế của các nƣớc thuộc Đông Á và Đông Nam Á đã tăng trƣởng nhanh gấp hai lần so với các nƣớc còn lại trong khu vực và gấp khoảng ba lần so với các nƣớc thuộc tiểu khu vực Sahara (Châu Phi) [122]. Câu hỏi đặt ra là, kinh tế thị trƣờng có những điểm khác biệt căn bản gì so với kinh tế kế hoạch hoá tập trung mà lại dẫn đến những kết quả khác nhau nhƣ vậy? Thứ nhất, nếu nhƣ trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thị trƣờng không có vai trò phân phối các nguồn lực sản xuất và chỉ có vai trò rất nhỏ trong việc phân phối các sản phẩm tiêu dùng với tƣ cách là một công cụ bổ sung cho kế hoạch thì trong nền kinh tế thị trƣờng, các quy luật khách quan của kinh tế thị trƣờng đƣợc xem là cơ sở quan trọng trong phát triển.
Tất nhiên, nhà nƣớc cũng có những tác động tích cực tới nền kinh tế này nhằm đảm bảo định hƣớng phát triển. Thứ hai, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nhà nƣớc trực tiếp quản lý các hoạt động kinh tế, các đơn vị kinh tế bằng các kế hoạch, chỉ tiêu. Trong khi đó, ở nền kinh tế thị trƣờng, nhà nƣớc hạn chế việc can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất của các cơ sở kinh tế để chuyển sang thực hiện chức năng điều chỉnh thông qua các công cụ quản lý vĩ mô. Thứ ba, nếu nhƣ trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, vai trò và cơ chế hoạt động của một số thành phần kinh tế (nhƣ thành phần kinh tế tƣ nhân, tƣ bản nhà nƣớc, tƣ bản có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.) không đƣợc thừa nhận thì trong nền kinh tế thị trƣờng, mọi thành phần kinh tế đã đƣợc thừa nhận và 23 z tạo điều kiện để phát triển.
Chính điều này đã tạo một nguồn lực đáng kể nhằm kích thích mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng sẵn có trong xã hội. Thứ tư, nền kinh tế thị trƣờng là một nền kinh tế mở cửa, hội nhập và tham gia vào phân công lao động khu vực và quốc tế. Có thể thấy, kinh tế thị trƣờng mang đến những thời cơ, vận hội lớn cho các quốc gia khi lựa chọn mô hình kinh tế này. Kinh tế thị trƣờng góp phần giải phóng mọi năng lực sản xuất, kinh doanh, kích thích sản xuất và tiêu dùng, từ đó thúc đẩy kinh tế tăng trƣởng nhanh; góp phần vào việc mở rộng thị trƣờng, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển giao vốn, khoa học công nghệ, kỹ năng quản lý đồng thời tạo ra nhiều cơ hội đầu tƣ mới, kể cả trong các quan hệ thƣơng mại quốc tế.
Tuy nhiên, kinh tế thị trƣờng không chỉ tạo ra những cơ hội mà còn mang lại nhiều thách thức đối với các nƣớc, nhất là những nƣớc đang phát triển. Kinh tế thị trƣờng làm tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng trong xã hội. Trong khi một bộ phận dân cƣ, với ƣu thế về vốn, công nghệ và trình độ quản lý kinh tế, đã giành đƣợc những khoản lợi nhuận lớn, thì một bộ phận không nhỏ khác lại phải chịu rủi ro. Mặt khác, việc kích thích tối đa hoạt động của các chủ thể kinh tế, hƣớng đến mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, tối thiểu hoá chi phí rất có thể sẽ dẫn tới những hiện tƣợng cạnh tranh không lành mạnh.
Vấn đề ô nhiễm môi trƣờng, cạn kiệt nguồn tài nguyên cũng là một thách thức của cơ chế kinh tế thị trƣờng. Tất cả những khuyết tật đó đều do cơ chế thị trƣờng sinh ra, song bản thân cơ chế thị trƣờng lại không tự khắc phục đƣợc. Vì vậy, cần phải có những tác động từ bên ngoài đến cơ chế thị trƣờng. Ở đây, chính là vai trò của nhà nƣớc.
24 z Có hai hình thái kinh tế thị trƣờng chủ yếu: kinh tế thị trƣờng TBCN và kinh tế thị trƣờng XHCN. Nền tảng của kinh tế thị trƣờng TBCN là chế độ tƣ hữu về tƣ liệu sản xuất. Trong khi đó, kinh tế thị trƣờng XHCN lại đƣợc tạo dựng trên cơ sở chế độ công hữu về tƣ liệu sản xuất. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng ta đã đánh dấu quá trình đổi mới của đất nƣớc với sự thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu mà nay là kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN.
Kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN là một kiểu tổ chức nền kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH vận hành theo các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trƣờng, các quy luật của thời kỳ quá độ, đồng thời có sự quản lý nhà nƣớc, nhằm đạt mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN có một số nội dung cơ bản: - Mục đích của nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN là phát triển lực lƣợng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật của CNXH, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội. Phát triển lực lƣợng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp trên ba mặt: sở hữu, quản lý, phân phối. - Có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nƣớc giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nƣớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc.
Chế độ sở hữu công cộng (công hữu) về tƣ liệu sản xuất chủ yếu sẽ từng bƣớc đƣợc xác lập và sẽ chiếm ƣu thế tuyệt đối khi CNXH xây dựng xong về cơ bản. - Có sự quản lý của Nhà nƣớc XHCN bằng pháp luật, chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch, chính sách. Nhà nƣớc áp dụng các hình thức kinh tế và 25 z phƣơng pháp quản lý kinh tế thị trƣờng để kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy mặt tích cực, hạn chế và khắc phục mặt tiêu cực. - Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn nhân lực khác vào sản xuất, kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội khác.
- Tăng trƣởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bƣớc phát triển. - Tăng trƣởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá và giáo dục, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con ngƣời, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cho đất nƣớc [105, tr. Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Vai trò (role) đƣợc hiểu là “chức năng, tác dụng, ảnh hưởng của một cơ quan, cá nhân…trong sự vận động, phát triển chung” [41, tr. Theo Từ điển Bách khoa minh hoạ của Mỹ (The American Heritage Illustrated Encyclopedic Dictionary), vai trò “chỉ cách xử sự được trông đợi đối với những cá nhân hoặc những nhóm người trong xã hội mà được quyết định bởi vị trí xã hội, giới tính hay những nhân tố khác, đó cũng có thể là chỉ chức năng” [205, tr.