Chương 1 giới thiệu sơ lược về tình hình kinh tế trong và ngoài nước, hoàn cảnh khó khăn trong việc tồn tại của doanh nghiệp. Từ đó nổi lên nhu cầu cần thiết của việc kiểm soát chi phí, dẫn đến tầm quan trọng của việc ước tính sự phân bố chi phí theo thời gian. Sau đó tổng kết thành các mục tiêu cụ thể, đối tượng cần khảo sát nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đóng góp của nghiên cứu. Bên cạnh đó cũng trình bày sơ lược nội dung cấu trúc của luận văn nghiên cứu.
- Chương 2 tóm lược các nội dung nghiên cứu trước đây đã được tham khảo trước khi tiến hành thực hiện nội dung nghiên cứu. Theo đó, nêu lên sự cần thiết của việc tiến hành nghiên cứu với phạm vi được xác định trong luận văn. - Chương 3 trình bày về quy trình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, các công cụ sử dụng trong luận văn (hồi quy, neural network). Tóm lược quá trình thu thập dữ liệu: thông qua phần mềm chuyên dụng của công ty cho từng tháng của mỗi dự án, thông qua các hợp đồng, thông qua ý kiến các nhân sự liên quan đến công tác chi phí của mỗi dự án (Giám đốc dự án, Chỉ huy trưởng, Quantity surveyor) - Chương 4 thể hiện chi tiết quá trình thực hiện nghiên cứu.
Trình tự thông qua nhiều bước, bao gồm: khảo sát tìm ra đường cong mô tả chi phí tích lũy, xây dựng mô hình ANN1 ước tính các giá trị phần trăm chi phí tích lũy tại 9 mốc thời gian từ 10-90% của dự án, mô hình ANN2 ước tính hệ số đường cong mô tả chi phí, các hướng cải tiến mô hình ANN thích hợp. Tổng hợp, nhận xét và so sánh các kết quả đạt được. - Chương 5 tổng kết lại tất cả quá trình thực hiện luận văn từ giai đoạn ý tưởng hình thành nghiên cứu, khảo sát sự cần thiết, tìm hiểu các nghiên cứu tương tự trước đây, xây dựng sơ bộ quy trình thực hiện, tìm các công cụ thích hợp để sử dụng trong nghiên cứu, thực hiện nghiên cứu và tổng kết các kết quả đạt được. HVTH: Phan Tường Thụy MSHV: 11086083 Luận văn thạc sỹ 15 GVHD: TS.
Lê Hoài Long CHƯƠNG 2. Giới thiệu chương Nội dung chính của chương này là tìm hiểu các hướng nghiên cứu đã có ở trong và ngoài nước để hiểu thêm về vấn đề đang muốn giải quyết, xem xét các kết quả và cách thức tiến hành trong từng trường hợp. Từ đó định hướng quá trình cụ thể cần thực hiện để giải quyết các mục tiêu đã đề ra. Bên cạnh đó, các lý thuyết và khái niệm cũng được trình bày sơ lược; các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí sẽ sử dụng trong luận văn cũng được liệt kê ở đây.
Các nghiên cứu trước đây Ashley và Teicholz (1977) đã xác định ba dạng đường – đường đạt được, đường thanh toán và đường chi phí – và sử dụng chúng làm cơ sở cho việc phát triển một mô hình hoạch định dòng tiền. Peer (1982) đã sử dụng mô hình hồi quy đa thức để tiên đoán dòng tiền hàng tháng của các dự án nhà ở và công trình công cộng. Navon (1996) đã thông qua mô hình đa thức, chia nhóm, và chi phí hàng tháng để phát triển mô hình ước tính và cập nhật dòng tiền cho dự án xây dựng. Boussabaine và Kaka (1998) đã sử dụng mạng neural để tiên đoán dòng tiền của dự án xây dựng.
Kenley và Wilson (1986) đã kết hợp kỹ thuật hồi quy với dữ liệu lịch sử để thiết kế mô hình dòng tiền trong trường hợp cụ thể. SS- curve cung cấp phân phối xác suất cho các giá trị chi phí và thời gian kỳ vọng. Quản lý việc thực hiện dự án được thực hiện bằng cách so sánh giá trị chi phí và thời gian có khả năng cao nhất, thu được từ phân phối xác suất tương ứng cho tiến trình thực tế, với chi phí tích lũy và dữ liệu thực sự của dự án. Sử dụng phương pháp này, tiến trình đánh giá việc thực hiện dự án thực tế có thể được phát triển xem xét thích hợp hơn với việc thay đổi tự nhiên của chi phí và thời gian dự án, hơn là chỉ dùng một mô hình đầu ra xác định.
HVTH: Phan Tường Thụy MSHV: 11086083 Luận văn thạc sỹ 16 GVHD: TS. Lê Hoài Long Hình 2. Sử dụng đường cong S có tính đến xác suất chi phí và tiến độ (Barraza, 2000) Hình 2. SS-Curve (Barraza, 2000) HVTH: Phan Tường Thụy MSHV: 11086083 Luận văn thạc sỹ 17 GVHD: TS.
Lê Hoài Long Hình 2. Quản lý dự án tính đến xác suất sử dụng SS-Curve (Barraza, 2000) Chen (2007) đã đề xuất một mô hình phản hồi theo mức độ của công ty dựa trên các biến kinh tế vi mô và tình hình tài chính nội tại. (Cheng và các cộng sự, 2011) Mặc dù nhiều nghiên cứu trước đây đã phát triển các mô hình gọn nhẹ cho các trường hợp ước lượng điển hình, một số trong đó được miêu tả là rất linh hoạt và nhạy với các yếu tố động xuất hiện trong tiến trình thực hiện dự án. Tuy nhiên, trong thực tế, sự phức tạp của các mô hình toán học này và lượng lớn dữ liệu cần thiết đã giảm tính linh hoạt, độ nhạy và khả năng đáp ứng nhanh trong chính chúng (các mô hình này).
Kaka và các cộng sự (2003) đã trình bày một mô hình tiên đoán dòng tiền động có khả năng hỗ trợ nhà thầu trong việc quản lý hiệu quả dòng tiền cho từng dự án cụ thể. Phương pháp này yêu cầu một lượng lớn biến số, trong đó có hơn 50 biến dùng cho việc cập nhật kết quả. HVTH: Phan Tường Thụy MSHV: 11086083 Luận văn thạc sỹ 18 GVHD: TS. Lê Hoài Long Trong bài báo của mình, Cheng và các cộng sự (2011) đã trình bày rằng: các phương pháp truyền thống về tiên đoán chi phí có xu hướng dùng một mô hình đơn nhất cho toàn thể dự án.
Tuy nhiên, một dự án xây dựng, bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, sẽ xuất hiện các chi phí khác nhau, do đó không thể nắm bắt được một cách chính xác chỉ bằng một mô hình đơn nhất. Gates (1979) đã phân đường cong S thành 3 giai đoạn. Sử dụng phương pháp tương tự, độ chính xác của ước đoán chi phí có thể được cải thiện bằng cách chia tổng thời gian của dự án xây dựng thành 3 phần. Do đó, bài báo của Cheng và các đồng sự (2011) hướng tới việc cải thiện mô hình ước đoán Grey truyền thống bằng cách xác định giá trị alpha thích hợp thay vì dùng con số 0.
Trong từng giai đọan của thực thi dự án, mô hình ước đoán – tối ưu hóa tùy chỉnh được áp dụng để ước tính chi phí cho từng khoảng thời gian ngắn. Banki và Esmaeli (2009) cho rằng thời gian dành cho ước đoán dòng tiền trước khi đấu thầu một cách chi tiết là rất giới hạn. Do đó, nhà thầu cần có một kỹ thuật nhanh và đơn giản cho phép họ ước đoán dòng tiền với độ chính xác thích hợp. Các tác giả thực hiện nghiên cứu tại phạm vi Iran.
Banki và Esmaeli thu thập dữ liệu lịch sử từ 20 dự án đã hoàn thành và phân loại thành các nhóm khác nhau. Để mô hình hóa S-Curve cho từng nhóm, các kỹ thuật khác nhau đã được áp dụng. Sai số xuất hiện được đo lường và so sánh. Cuối cùng, độ chính xác của từng mô hình được tính toán và một công thức được đề xuất để ước đoán đường cong S.
Trong bài báo của mình, Chao và các đồng sự (2009) đã so sánh: trong khi đường cong S dùng cho việc kiểm soát dự án trong quá trình xây dựng được ước tính theo phép giải tích dựa trên tiến độ của công việc, thì phương pháp ước đoán thử nghiệm (empirical estimation) sử dụng các công thức đường cong S toán học khác nhau được phát triển cho giai đoạn khởi đầu (giai đoạn tiền thiết kế), với giá trị tương tự từ các dự án tương tự được dùng làm cơ sở cho việc ước đoán. Trong sự cố gắng để cải thiện, các tác giả đã đề xuất một hàm đa thức bậc ba ngắn gọn và so sánh với các hàm đã có để đưa ra các lợi ích như độ chính xác, sự đơn giản. Bằng việc phân tích các thuộc tính và tiến trình thực tế của 101 dự án, 4 nhân tố, bao gồm: giá trị gói thầu, thời gian, loại công việc, vị trí, được sử dụng làm đầu vào của mô hình. Để cải tiến mô hình, sử dụng neural network để thực hiện việc liên kết phi tuyến phức tạp.
Chen và các cộng sự (2009) đã xem xét đến thành phần tiền mặt trong quản lý vốn dựa trên bảng cân đối kế toán. Các tác giả phát triển một mô hình thực tế cho phép các công ty tại Đài Loan tận dụng nguồn tiền mặt và tài sản hiện có tại bất kì mốc thời gian nào với một phương thức hợp lý. Để hiểu rõ hơn, Chen và các cộng sự đầu tiên là giới thiệu mô hình được phát triển bởi Miller và Orr. Mối liên hệ giữa thời gian dự án và tiến trình cho đến khi kết thúc được trình bày rất hiệu quả bằng HVTH: Phan Tường Thụy MSHV: 11086083 Luận văn thạc sỹ 19 GVHD: TS.
Lê Hoài Long đường cong S trong quản lý xây dựng thực tế. Do đó, các tác giả đã trình bày đường cong S bằng cách hồi quy dựa trên mô hình hồi quy Takagi-Sugeno (1985). Dữ liệu được thu thập từ Taipei City Government’ Department of Rapid Transit Systems. Hyung và cộng sự (2005) đã sử dụng quan điểm di chuyển trọng số của các đầu mục chi phí, các trọng số này thay đổi phụ thuộc vào tiến trình của dự án xây dựng.
Các đầu mục chi phí này được phân loại dựa trên độ trễ thời gian của tài nguyên trong chi phí. Khi độ lệch giữa dữ liệu thực tế và dữ liệu kế hoạch xuất hiện, việc điều chỉnh trọng số được tính toán và áp dụng cho giai đoạn lập kế hoạch tiếp theo. Việc điều chỉnh này sẽ cập nhật đường cong chi phí S để phản ánh bất kỳ thay đổi có thể xuất hiện. Bên cạnh đó, việc phân loại các đầu mục chi phí là rất thiết yếu để đảm bảo độ chính xác của việc ước đoán chi phí.
Theo Blyth và Kaka (2006), chưa có một mô hình nào có khả năng tự động ước tính đường cong S duy nhất theo đặc tính của dự án (ít nhất là theo mức độ chi tiết trong bài báo).