Chương 1: Tổng quan về ước lượng xác suất không trả được nợ của khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng ước lượng xác suất không trả được nợ của khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Bến Tre. 4 Chương 3: Giải pháp nâng cao khả năng ước lượng xác suất không trả được nợ của khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Bến Tre. 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ƢỚC LƢỢNG XÁC SUẤT KHÔNG TRẢ ĐƢỢC NỢ CỦA KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Xác xuất không trả đƣợc nợ của khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm xác xuất không trả đƣợc nợ của khách hàng doanh nghiệp: Trên thế giới, theo Hiệp ước Basel II xác suất không trả được nợ của khách hàng là một thuật ngữ tài chính mô tả khả năng không trả được nợ của khách hàng trong một khoảng thời gian cụ thể.
Nó cung cấp việc ước tính một khách hàng không thể hoàn thành các nghĩa vụ nợ đối với các tổ chức tín dụng. Theo đó, đối với các khách hàng không trả được nợ là những khách hàng bị một trong những hoặc tất cả những dấu hiệu sau: + Khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ khi đến hạn mà chưa tính đến việc ngân hàng bán tài sản để hoàn trả; + Khách hàng có các khoản NQH có thời hạn trên 90 ngày. Tháng 6 năm 2004, Ủy ban Basel đã xây dựng Hiệp định mới về “Tiêu chuẩn vốn quốc tế” - gọi là Basel II. Theo đó, các ngân hàng sẽ sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu của nội bộ để đánh giá vấn đề rủi ro tín dụng, từ đó xác định hệ số an toàn vốn tối thiểu.
Như vậy, theo yêu cầu của Basel II, các ngân hàng sẽ sử dụng các mô hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng. Các ngân hàng sẽ xác định các biến số như : xác suất khách hàng không trả được nợ (PD - Probability of Default); tỷ trọng tổn thất ước tính (LGD - Loss Given Default); tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ (EAD - Exposure at Default ). Thông qua các biến số trên, ngân hàng sẽ xác định được tổn thất có thể ước tính (EL - Expected Loss). Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể ước tính được tính toán dựa trên công thức sau: EL = PD x EAD x LGD PD - xác suất không trả được nợ: cơ sở của xác suất này là các số liệu về các 6 khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được.
Theo yêu cầu của Basel II, để tính toán được nợ trong vòng một năm của khách hàng, ngân hàng phải căn cứ vào số liệu dư nợ của khách hàng trong vòng ít nhất là 5 năm trước đó. Tại Việt Nam, theo điều 3 Luật phá sản của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản. Xác suất phá sản là khả năng doanh nghiệp bị phá sản trong tương lai và thường được thể hiện bằng con số (%). Hiện tại, tại Việt Nam chưa có khái niệm khách hàng không trả được nợ vì đây là một khái niệm khá mới liên quan đến các phương pháp quản trị rủi ro tín dụng tiên tiến theo Hiệp ước Basel II.
NHNN cũng chưa có bất cứ quy định nào liên quan đến khách hàng không trả được nợ mà chỉ có các quy định về việc phân loại nợ trong đó bao gồm NQH, nợ xấu. Chính vì thế, việc xây dựng một khái niệm chính xác về khách hàng không trả được nợ là tương đối khó khăn. Đồng thời, định nghĩa về khách hàng không trả được nợ theo Hiệp ước Basel II mang tính chất tham khảo, trong đó, khuyến khích các ngân hàng tự xây dựng định nghĩa khách hàng không trả đươc nợ và xác suất khách hàng không trả được nợ. Tại NHTM hiện nay dựa theo các tiêu chí về phân loại nợ theo quy định tại quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005, quyết định số 18/2007/QĐ- NHNN ngày 25/04/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam bao gồm nợ nhóm 1, 2, 3, 4, 5.
Trong đó, NQH bao gồm nợ nhóm 2, 3, 4, 5; Nợ xấu bao gồm nợ nhóm 3,4,5. Đây là căn cứ để xác định khả năng không trả được nợ của khách hàng. Theo Basel II, khái niệm không trả được nợ của khách hàng là khi có ít nhất một trong các vấn đề sau: + Khách hàng bị cơ cấu nợ (bao gồm gia hạn hoặc điều chỉnh kỳ hạn nợ) mà số lần cơ cấu từ 01 lần trở lên. + Khách hàng có NQH có thời gian trên 90 ngày 7 + Khách hàng bị suy giảm khả năng trả nợ và được xếp vào nhóm nợ cao hơn.
Xác suất khách hàng không trả được nợ trong vòng 01 năm tới là xác suất khách hàng bị ít nhất một trong các vấn đề trên trong vòng 01 năm tới.2 Mục tiêu của việc xác định xác suất không trả đƣợc nợ của khách hàng doanh nghiệp Khi ngân hàng cho vay các khách hàng tốt, hệ số rủi ro giảm xuống và tất yếu dẫn đến tài sản rủi ro tín dụng giảm. Kết quả là hệ số an toàn vốn tăng, điều này dẫn đến hình ảnh ngân hàng trở nên tốt hơn đối với thị trường và các cơ quan giám sát. Với việc xác định được xác suất không trả được nợ của KHDN, ngân hàng sẽ thực hiện được thêm các mục tiêu: Giúp ngân hàng tăng cường khả năng quản trị nhân sự, cụ thể là quản trị đội ngũ cán bộ tín dụng. Theo lý thuyết quản trị, quản trị nhân sự bao gồm bốn vấn đề chính tuyển dụng; đào tạo lại; hệ thống lương thưởng; vấn đề thăng tiến.
Trên thực tế, nhiều ngân hàng trên thế giới đã xây dựng hệ thống chấm điểm kết quả công việc của cán bộ tín dụng để xác định mức lương và lộ trình thăng tiến phù hợp. Với cán bộ tín dụng, lương và thưởng thường được dựa vào số dư nợ, số lượng khách hàng và chất lượng tín dụng. Nếu cán bộ tín dụng có dư nợ cao nhưng chất lượng tín dụng thấp thì lương và thưởng vẫn có thể rất thấp và tất nhiên là không thể thăng tiến. Như vậy, việc xác định xác suất không trả được nợ với từng danh mục cho vay của từng cán bộ tín dụng sẽ định lượng rõ chất lượng tín dụng của từng cán bộ.
Điều này buộc cán bộ tín dụng phải luôn nỗ lực tránh rủi ro nếu không sẽ nhận mức lương và thưởng rất thấp cho dù là cán bộ có thâm niên cao. Xác định xác suất không trả được nợ của KHDN sẽ giúp ngân hàng xây dựng hiệu quả hơn Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng. Nếu ngân hàng xác định được chính xác xác suất không trả được nợ thì việc trích lập trở nên đơn giản, hiệu quả và chính xác hơn rất nhiều. Như vậy, NHTM có thể dựa vào kết quả của việc ước lượng xác suất không trả được nợ của khách hàng doanh nghiệp để tái xếp hạng khách hàng.
Điều này vừa đảm bảo tính logic vừa đảm bảo tính khoa học. 8 Tuy nhiên, việc tính toán xác suất không trả được nợ của khách hàng doanh nghiệp luôn hết sức phức tạp, đòi hỏi ngân hàng phải có một cơ sở dữ liệu đầy đủ, được lưu trữ khoa học với những chương trình phần mềm xử lý dữ liệu hiện đại. Tất cả những vấn đề trên đều đòi hỏi các NHTM phải đầu tư nguồn lực về tài chính, con người, thời gian rất khổng lồ và đặc biệt phải có lộ trình cụ thể.2 Ƣớc lƣợng xác xuất không trả đƣợc nợ của khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm Vay nợ và trả nợ là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Nếu như việc vay nợ mà không trả nợ diễn ra sẽ dẫn đến hậu quả là sự xung đột lợi ích của các chủ thể tham gia vào quan hệ kinh tế này.
Vậy, khi một ngân hàng cho một khách hàng vay cần xác định những hậu quả khi khách hàng không trả nợ, đây chính là rủi ro của ngân hàng. Để quản trị rủi ro này, Ngân hàng cần ước lượng xác suất không trả được nợ của khách hàng để từ đó có thể đưa ra quyết định cho vay phù hợp. Xác suất: Cho A1, A2, …, An là nhóm các biến cố đầy đủ và có cùng khả năng xảy ra. Khi đó xác suất để xảy ra biến cố Ai là P(Ai) = 1/n Nếu biến cố A nào đó là tổng của m biến cố thuộc nhóm các biến cố đầy đủ trên thì xác suất của biến cố A là P(A) = m/n Xác suất xuất hiện biến cố A là tỷ số giữa số các trường hợp thuận lợi để biến cố A xảy ra và số trường hợp cùng khả năng có thể xảy ra khi thực hiện phép thử.
Trong thống kê, ước lượng là một giá trị được tính toán từ một mẫu thử và người ta hy vọng đó là giá trị tiêu biểu cho giá trị cần xác định trong mẫu. Theo đó, việc ước lượng xác suất không trả được nợ của KHDN tại NHTM là những tính toán, phân tích từ một nhóm các KHDN được chọn trong một NHTM để tìm ra khả năng một KHDN không trả được nợ trong vòng 1 năm tiếp theo, từ đó sử dụng kết này như một giá trị tiêu biểu trong mẫu được chọn và giá trị đó tiêu biểu cho xác suất không trả được nợ của KHDN. Từ đó có thể ứng dụng để ước lượng xác suất không trả được nợ của KHDN tại NHTM.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp tại tỉnh Bến Tre và các chỉ tiêu tài chính ảnh hƣởng đến khả năng không trả đƣợc nợ của khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Đặc điểm của các doanh nghiệp tại tỉnh Bến Tre Doanh nghiệp tại thành khu công nghiệp Giao Long và khu công nghiệp An Hiệp thu hút thêm nhiều doanh nghiệp ngành may mặc, điện tử và dịch vụ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này hoạt động theo hình thức tự phát, chủ doanh nghiệp là người nối nghiệp của gia đình, chưa ý thức được tầm quan trọng của công tác vay nợ và trả nợ vì nghĩ đã có tài sản thế chấp.