MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, ngành nông nghiệp cũng đã có những thay đổi rất đáng kể. Nhiều loại máy móc tiên tiến, công nghệ trồng trọt, giống mới…ra đời, đáp ứng nhu cầu sản xuất của người dân. Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới thuận lợi cho việc phát triển ngành nông nghiệp đặc biệt là trồng lúa nước và các loại cây hoa màu nhiệt đới khác.
Phương thức canh tác nhiều địa phương vẫn còn mang tính chất thủ công truyền thống vì vậy mà năng suất chất lượng sản phẩm nông sản không cao, các sản phẩm thải sau mỗi mùa vụ thu hoạch không được thu gom xử lý thích hợp thông thường người dân sử dụng phương pháp đốt gây ô nhiễm môi trường không khí, môi trường đất giết chết các loài sinh vật đất có lợi…gây thoái hóa đất. Để trả lại độ phì nhiêu cho đất biện pháp ưu việt nhất là sử dụng phân hữu cơ để bón cho đất nhằm cải tạo đất. Phân bón hữu cơ sử dụng nguyên liệu là các sản phẩm thải của cây trồng sau các kỳ thu hoạch dựa vào các chủng vi sinh vật để phân giải nhanh và có nguồn dinh dưỡng cao, rất tốt cho cây cũng như cho đất, giúp cải tạo làm đất tơi xốp. Mặt khác với mức sống trung bình của một người nông dân hiện nay không thể dùng các loại phân bón hóa học cho cây trồng với giá cả cao như hiện nay, việc dùng phân hữu cơ vi sinh được làm từ các nguyên liệu có sẵn đã đáp ứng được mong muốn của người nông dân, vừa tăng năng suất, tiết kiệm chi phí, tận dụng được nguồn phế phụ phẩm từ nông nghiệp… Xã Đa Phúc là một xã thuộc huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình trong những năm gần đây cùng với sự phát triển về kinh tế, sản xuất nông nghiệp của người dân ngày càng phụ thuộc vào phân bón hoá học và các loại thuốc n bảo vệ thực vật hóa học, các loại phân hữu cơ rất ít được người dân chú trọng sử dụng.
Các loại phế, phụ phẩm nông nghiệp như rơm rạ, thân cây ngô, vỏ lá mía, bã mía được để ngoài tự nhiên lâu phân hủy, tạo nơi phát triển cho các loài gặm nhấm, côn trùng gây bệnh hoặc được đốt gây ô nhiễm môi trường. Nếu tận dụng tốt các loại phế phụ phẩm trên sẽ là nguồn tài nguyên quý. Hiện em đang là một sinh viên khoa Môi trường, vì vậy em rất quan tâm đến các giải pháp làm giảm ô nhiễm môi trường sống xung quanh đặc biệt là môi trường nông thôn. Đồng thời em sinh ra và lớn lên tại vùng nông thôn, em quan tâm đến lợi ích của những người dân lam lũ trong xã hội, với kiến thức đã học trên ghế nhà trường cùng với sự giúp đỡ tận tình của giảng viên : TS.
Nguyễn Thị Lợi em tiến hành thực hiện đề tài: “Ứng dụng vi sinh vật hữu hiệu (EM) để xử lý phế phụ phẩm nông nghiệp tại xã Đa Phúc, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình”. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu ứng dụng một số chế phẩm EM để xử lý rác thải từ nông nghiệp tại xã Đa Phúc, huyện Yên thủy, tỉnh Hòa Bình. Yêu cầu của đề tài - Ứng dụng thực tế sản xuất làm phân hữu cơ ở các hộ gia đình, trang trại. - Đề xuất các giải pháp có tính khả thi cao phù hợp với điều kiện của địa phương, thu hút được sự tham gia và đồng ý của người dân địa phương.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Khóa luận giúp cho sinh viên có thể vận dụng được các kiến thức đã học vào trong thực tiễn. - Đồng thời, khóa luận cũng giúp sinh viên nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. Ý nghĩa thực tiễn - Khóa luận giúp người dân tiếp cận với quy trình công nghệ sản xuất phân hữu cơ vi sinh nhằm tiết kiệm chi phí trong sản xuất nông nghiệp, tận dụng nguồn phế phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp.
- Giảm ô nhiễm môi trường. n Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Khái niệm môi trường Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật.
Khái niệm ô nhiễm môi trường Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật. Khái niệm nông nghiệp Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm. để thoả mãn các nhu cầu của mình. Nông nghiệp theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp (Nguồn:Giáo trình “Kinh tế nông nghiệp”,Vũ Đình Thắng) [15].
Như vậy, Nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên. Các điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt trời. trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng vật nuôi. Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên; là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ gặp rất nhiều khó khăn.
Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ở nước ta thường gắn liền với những phương pháp canh tác còn thô sơ và lạc hậu. khái niệm phế phụ phẩm nông nghiệp Phế phụ phẩm nông nghiệp là chất thải phát sinh trong quá trình làm nông nghiệp, quá trình chế biến các loại cây công nghiệp, cây lương thực, sản xuất hoa quả, thực phẩm…thành phần gồm nhiều chủng loại khác nhau, phần lớn là các thành phần có khả năng phân hủy sinh học như phân gia súc, rơm rạ, chất thải từ chăn nuôi, giết mổ và một phần là các chất thải khó phân hủy và độc hại. Ảnh hưởng của rác thải nông nghiệp đến môi trường 1. Với môi trường không khí Các loại rác thải nông nghiệp trong quá trình phân hủy sinh học đều phát sinh ra các lạo khí như H2S, NH3, CH4, SO2, CO2… khi ngửi phải các loại khí này con người thường bị kích thích đường hô hấp, gây đau đầu, viêm kết mạc, mất ngủ, đau mắt, suy hô hấp.
Với nồng độ cao chúng làm cản trở sự vận chuyển Oxy, làm hại các mô thần kinh, thậm chí gây tử vong (Lê Văn Khoa, 2003) [9]. Với môi trường đất Trong thành phần rác thải nông nghiệp có chứa nhiều độc chất khi tích trữ nhiều sẽ gây biến đổi các thành phần môi trường đất gây ô nhiễm môi trường đất ngăn cản sự sống của nhiều loài sinh vật có ích như: giun, vi sinh vật, nhiều động vật không xương sống. Làm môi trường đất giảm tính đa dạng sinh học và phát sinh nhiều loài gặm nhấm, sâu bọ phá hoại cây trồng, các loài trung gian lây bệnh cho con người và gia súc như ruồi, muỗi (Lê Văn Khoa, 2003) [9]. Với môi trường nước Theo thói quen người dân thường đổ rác tại các bờ suối, ao, hồ, cống rãnh.
Lượng rác này sau khi phân hủy sẽ tác động trực tiếp đến chất lượng nước mặt, nước ngầm trong khu vực. Mặt khác, lâu dần những rác này sẽ làm n giảm diện tích ao hồ, giảm khả năng tự làm sạch của nước gây cản trở dòng chảy, tắc cống rãnh thoát nước. Hậu quả là các hệ sinh thái trong ao hồ bị hủy diệt, gây ô nhiễm nguồn nước và phát sinh nhiều loại bệnh dịch nguy hiểm như tiêu chảy, tả lị trực khuẩn, thương hàn… ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng (Lê Văn Khoa, 2003) [9].2 Cơ sở pháp lý trong xử lý chất thải và bảo vệ môi trường - Căn cứ luật BVMT 2005 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006. - Căn cứ nghị định 80/2006/NĐ – CP ngày 09/08/2006 của chính phủ về quyết định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật BVMT.
- Căn cứ nghị định 21/2008/NĐ – CP ngày 28/2/2008 của chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 80/2006/NĐ – CP. - Căn cứ nghị định 59/2007/NĐ – CP ngày 09/04/2007 của chính phủ về quản lý chất thải rắn. - Căn cứ thông tư 199/TTg – CP ngày 03/04/1997 về những biện pháp cấp bách trong công tác quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp. - Căn cứ thông tư số 13/2007/TT – BXD ngày 31/12/2007 của bộ xây dựng về hướng dẫn môt số điều của nghị định 59/2007/NĐ – CP ngày 09/04/1007cuar chính phủ về quản lý chất thải rắn.
- Căn cứ quyết định 17/2011/QĐ – BXD ngày 07/08/2011 của bộ trưởng bộ xây dựng ban hành định mức dự toán chuyên nghành vệ sinh môi trường – công tác thu gom, vân chuyển, xử lý rác. - Căn cứ quyết định số 1630/QĐ – BTNMT ban hành ngày 01/10/2012 của bộ tài nguyên môi trường quy định về việc ban hành danh mục chế phẩm sinh học được lưu hành trong xử lý chất thải tại Việt Nam. n - Căn cứ công văn số 1384/BXD ngày 08/09/2004 về quản lý chất thải rắn đô thị và khu công nghiệp. - TCVN 6696 – 2000 chất thải rắn – bãi chôn lấp hợp vệ sinh – yêu cầu chung về BVMT.
Hiện trạng xử lý chất thải hữu cơ và phế phụ phẩm nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình phát sinh, thu gom và xử lý chất thải rắn trên thế giới Theo Nguyễn Thị Oanh Hoa [6] trên thế giới ở một số nước có mô hình thu gom, phân loại và xử lý rác thải rất hiệu quả: 1. Nhật Bản: Theo số liệu của cục Y tế và Môi sinh Nhật Bản, hàng năm nước này có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó 12% là rác thải sinh hoạt. Trong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rác thải phải đưa tới bãi chon lấp trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế.
Số còn lại được xử lý bằng cách đốt, hoặc chôn lấp tại các nhà máy xử lý rác. Chi phí cho việc xử lý rác hàng năm tính theo đầu người khoảng 300 nghìn Yên (khoảng 2. Như vậy lượng rác thải của Nhật Bản rất lớn nếu không tái xử lý kịp thời thì môi trường sống sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Hiện nay, tại các thành phố của Nhật Bản, chủ yếu sử dụng công nghệ đốt để xử lý nguồn rác thải khó phân hủy.