CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề cơ bản về rủi ro thị trường 1. Khái niệm rủi ro thị trường Khái niệm về rủi ro thị trường bắt đầu được chú ý từ sự xuất hiện của các cú sốc lớn trên thị trường và sự xuất hiện nhanh chóng của các công cụ phái sinh đã tạo ra một số sự kiện cực đoan vào cuối những năm 80 và đầu những năm 90. Ngày 19 tháng 10 năm 1987, thị trường chứng khoán sụp đổ, chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones giảm hơn 20% trong ngày.
Năm 1990, sự sụp đổ của bong bóng giá tài sản Nhật Bản gây ra nhiều thiệt hại cho nền kinh tế. Sự gia tăng bất ngờ của lãi suất Mỹ vào năm 1994 đã dẫn đến một cuộc thảm sát trên thị trường trái phiếu và gây khó khăn cho các ngân hàng, quỹ phòng hộ và các nhà quản lý tiền tệ. Năm 1994 - 1995, một số thảm hoạ tài chính xảy ra, đặc biệt là sự phá sản của công ty quản lý đầu tư Barings và Quận Cam (Jorion, 2007). Từ đó, RRTT trở thành vấn đề quan trọng trong quá trình QTRR của doanh nghiệp.
Tháng 4 năm 1993, Uỷ ban Basel đã xuất bản ấn phẩm đầu tiên kết hợp RRTT trong tỷ lệ Cooke. Tháng 4 năm 1995, Basel chấp nhận tính chi phí vốn cho RRTT bằng mô hình nội bộ, quyết định này chủ yếu bắt nguồn từ ngân hàng JP Morgan công bố chỉ số rủi ro vào tháng 10 năm 1994. Theo Uỷ ban Basel (2019), RRTT là rủi ro thua lỗ ở cả nội bảng và ngoại bảng phát sinh từ biến động giá cả thị trường. Các yêu cầu về vốn RRTT bao gồm nhưng không giới hạn ở: (1) Rủi ro vỡ nợ, rủi ro lãi suất, rủi ro chênh lệch tín dụng, rủi ro ngoại hối (FX) và rủi ro hàng hoá đối với các công cụ trong danh mục giao dịch (2) Rủi ro ngoại hối và rủi ro hàng hoá đối với các công cụ trong số sách ngân hàng.
Quan điểm của Basel là một trong những quan điểm được sử dụng rộng rãi nhất trong quá trình hoạt động của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Ngoài Uỷ ban Basel, nhiều khái niệm đã được đưa ra về RRTT trong các nghiên cứu trước đây, cụ thể, đứng trên góc độ của doanh nghiệp: RRTT là một hình thức cụ thể của rủi ro tài chính, là rủi ro đối với tình trạng tài chính của một tổ chức do những 4 biến động bất lợi của giá cả trên thị trường (John Fraim & Conor Meegan, 1996). RRTT là một trong những rủi ro rõ ràng và dễ thấy nhất mà hầu hết các tổ chức và cá nhân phải đối mặt, thường phát sinh từ các sự kiện kinh tế cơ bản nhất định trong nền kinh tế, ngành hoặc sự phát triển của các công ty cụ thể. Về bản chất, RRTT là rủi ro phát sinh từ những thay đổi trên thị trường mà một tổ chức có thể tiếp xúc (Don M.
Chance và Michelle McCharthy Beck, 2022). RRTT có thể phân biệt với các hình thức khác của rủi ro tài chính, đặc biệt là rủi ro tín dụng (rủi ro thua lỗ đến từ việc đối tác không có khả năng chi trả nợ) và rủi ro hoạt động (rủi ro thua lỗ từ hệ thống kiểm soát hoặc từ khả năng của người vận hành) (Kevin Dowd, 2007), (Don M. Chance và Michelle McCharthy Beck, 2022). RRTT tập trung vào một tập hợp các công cụ được hạch toán trên cơ sở giá thị trường, được giao dịch trên sàn giao dịch với mức giá có thể quan sát được trên thị trường (Donald R.
Van Deventer, Kenji Imai và Mark Mesler, 2013). Đứng trên quan điểm quản trị rủi ro của danh mục đầu tư, theo Peter F. Christoffersen (2012) và Don M. Chance và Michelle McCharthy Beck (2022), RRTT là rủi ro đối với danh mục đầu tư tài chính từ những biến động về giá cả thị trường như giá cổ phiếu, tỷ giá hối đoái, lãi suất và giá cả hàng hóa.
Trong khi các công ty tài chính chấp nhận nhiều RRTT, để thu được lợi nhuận, họ thường cố gắng chọn loại rủi ro mà họ muốn tiếp xúc. Ví dụ, một giao dịch quyền chọn có nhiều khả năng tiếp xúc với sự biến động của thị trường, nhưng không theo hướng của thị trường chứng khoán. Các nhà giao dịch quyền chọn cố gắng thực hiện chiến lược delta trung lập, chuyên môn của họ là sự biến động chứ không phải định hướng thị trường, và họ chỉ chấp nhận rủi ro mà họ am hiểu nhất, cụ thể là rủi ro biến động. Do đó, các công ty tài chính có xu hướng quản lý RRTT một cách chủ động.
Mặt khác, các công ty phi tài chính có thể quyết định rằng họ chỉ muốn tiếp xúc với rủi ro kinh doanh cốt lõi của họ (chẳng hạn sản xuất chip), do đó họ muốn giảm thiểu RRTT hoặc lý tưởng nhất là loại bỏ hoàn toàn rủi ro đó. Tóm lại, RRTT là một trong những rủi ro hầu hết các doanh nghiệp đều phải đối mặt. RRTT là rủi ro đến từ biến động của các yếu tố thị trường như lãi suất, tỷ giá hối 5 đoái và giá cả hàng hoá. RRTT ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, đòi hỏi doanh nghiệp cần có chiến lược giảm thiểu rủi ro cụ thể.
Các yếu tố cấu thành rủi ro thị trường Có nhiều cách phân loại rủi ro thị trường, RRTT có thể được phân loại thành rủi ro lãi suất, rủi ro biến động giá cả hàng hoá, rủi ro tỷ giá đối hoái tùy thuộc vào yếu tố rủi ro là lãi suất, giá cổ phiếu hay một biến ngẫu nhiên khác (Kevin Dowd, 2007). Các nghiên cứu của Peter F. Chance và Michelle McCharthy Beck (2022), Darrell Duffie và Jun Pan (1997), Trần Mạnh Hà (2009), Peter F. Christoffersen (2012) cũng cùng quan điểm về các yếu tố chính của RRTT.1: Các yếu tố cấu thành rủi ro thị trường Rủi ro thị trường Các rủi ro khác Rủi ro biến động Rủi ro biến động Rủi ro lãi suất Rủi ro tỷ giá (ví dụ: bất động giá chứng khoán giá cả hàng hoá sản, lạm phát) Nguồn: EY (2022) Rủi ro lãi suất: Rủi ro lãi suất là xác suất xảy ra tác động bất lợi để khả năng sinh lời hoặc giá trị tài sản do thay đổi lãi suất.
Rủi ro lãi suất ảnh hưởng đến nhiều tổ chức, cả người đi vay và nhà đầu tư, rủi ro này ảnh hưởng đặc biệt đến các ngành và lĩnh vực sử dụng nhiều vốn. Thay đổi của lãi suất ảnh hưởng đến người đi vay thông qua chi phí vốn. Ví dụ: một bên vay doanh nghiệp sử dụng khoản nợ có lãi suất thả nổi sẽ phải đối mặt với việc lãi suất tăng có thể làm tăng chi phí vốn của công ty. Rủi ro lãi suất phát sinh từ nhiều nguồn, bao gồm: (1) Thay đổi mặt bằng lãi suất (rủi ro lãi suất tuyệt đối) (2) Thay đổi hình dạng của đường cong lợi suất (rủi ro đường cong lợi suất) (3) Sự không phù hợp giữa mức độ rủi ro và các chiến lược quản lý rủi ro đã thực hiện (rủi ro nền tảng).
6 Một tổ chức có thể sử dụng các chiến lược phòng ngừa rủi ro bằng công cụ phát sinh như: thoả thuận, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi và quyền chọn Rủi ro tỷ giá hối đoái: Rủi ro ngoại hối phát sinh thông qua: rủi ro chuyển đổi, rủi ro giao dịch và rủi ro kinh tế. Rủi ro này có thể phát sinh từ các giao dịch hàng hoá, trong đó giá trị hàng hoá được xác định và giao dịch bằng một loại tiền tệ khác. Rủi ro giao dịch tác động đến khả năng sinh lời của một tổ chức trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Rủi ro phát sinh từ các giao dịch thông thường của một tổ chức, bao gồm mua hàng từ nhà cung cấp, thanh toán theo hợp đồng bằng các loại tiền tệ khác, thanh toán tiền bản quyền, phí giấy phép và bán hàng cho khách hàng bằng ngoại tệ.
Nhìn chung, các tổ chức mua hoặc bán sản phẩm và dịch vụ bằng ngoại tệ thường chịu rủi ro hối đoái giao dịch, việc quản lý được rủi ro này là yếu tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp. Rủi ro chuyển đổi đề cập đến những biến động phát sinh từ việc chuyển đổi kế toán báo cáo tài chính, đặc biệt là tài sản và nợ phải trả trên bảng cân đối kế toán. Ví dụ, rủi ro khi bị lỗ tỷ giá khi chuyển đổi kết quả từ đồng tiền từ sổ kế toán của công ty con sang đồng tiền của báo cáo tài chính của công ty mẹ. Từ góc độ khác, rủi ro chuyển đổi ảnh hưởng đến một tổ chức bằng cách ảnh hưởng đến giá trị của các khoản mục trong bảng cân đối ngoại tệ như: khoản phải trả, phải thu, tiền mặt và tiền gửi ngoại tệ, nợ ngoại tệ.
Tài sản và nợ dài hạn có liên quan đến nước ngoài có khả năng bị ảnh hưởng đặc biệt. Bên cạnh đó, các khoản nợ ngoại tệ, tức là các tổ chức vay bằng ngoại tệ nhưng không có tài sản tiền tệ hoặc dòng tiền bù đắp, khi giá trị của ngoại tệ so với nội tệ tăng lên, giá trị thị trường quy đổi của khoản nợ phải trả bằng ngoại tệ cũng tăng lên. Rủi ro biến động giá cả hàng hoá: Rủi ro về giá hàng hóa xảy ra khi có khả năng thay đổi giá của hàng hóa phải được mua hoặc bán. Rủi ro cũng có thể phát sinh từ hoạt động kinh doanh phi hàng hóa nếu đầu vào hoặc sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp có liên quan đến hàng hóa.
Rủi ro về giá hàng hóa ảnh hưởng đến người tiêu dùng và người dùng cuối như nhà sản xuất, chính phủ, nhà chế biến và nhà bán buôn. Nếu giá hàng hóa tăng, chi phí mua hàng tăng, làm giảm lợi nhuận từ các giao dịch. 7 Rủi ro về giá hàng hoá cũng ảnh hưởng đến các nhà sản xuất hàng hóa. Nếu giá cả hàng hóa giảm, doanh thu từ sản xuất cũng giảm, làm giảm thu nhập của doanh nghiệp.
Rủi ro về giá nói chung là rủi ro lớn nhất ảnh hưởng đến doanh thu của người sản xuất hàng hóa và cần được quản lý phù hợp. Giá cả hàng hóa có thể được đặt bởi người mua và người bản địa bằng đồng nội tệ để tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của khách hàng địa phương. Tuy nhiên, khi các giao dịch được thực hiện bằng đồng nội tệ đối với một loại hàng hóa thường được giao dịch bằng một loại tiền tệ khác, tỷ giá hối đoái sẽ là một phần của tổng giá hàng hoá và xuất hiện rủi ro tiền tệ.