Đặt vấn đề Sự phát triển bền vững của bất cứ một quốc gia nào đều gắn liền với vấn đề “an ninh năng lượng”. Năng lượng có một vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ cải thiện chất lượng cuộc sống mà còn làm cho kinh tế và xã hội phát triển. Do đó, mỗi quốc gia dù giàu hay nghèo đều coi việc đảm bảo nguồn năng lượng là tiền đề cần thiết cho sự phát triển bền vững của mình. Ở Việt Nam, tăng trưởng kinh tế liên tục với tốc độ cao giúp cải thiện mức sống của người dân và làm tăng nhu cầu sử dụng năng lượng.
Dự báo, tăng trưởng nhu cầu năng lượng của Việt Nam là 8,1-8,7% giai đoạn (2001 - 2020) (Viện nghiên cứu Đông Bắc Á, 2013) hơn cả mức tăng GDP (khoảng 7,1%/năm từ 1998-2010), là kết quả của quá trình công nghiệp hóa, điện khí hóa nông thôn và phát triển giao thông mạnh mẽ. Và Ngành năng lượng Việt Nam đã có đóng góp đáng kể cho phát triển kinh tế của đất nước, tăng trưởng công nghiệp và xuất khẩu. Trong tương lai nhu cầu này sẽ còn tăng hơn nữa cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế. Vì vậy, việc đảm bảo an ninh năng lượng đang ngày càng trở thành nhiệm vụ cấp bách trong thời điểm hiện nay.
Đi kèm với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là sự gia tăng không ngừng trong việc sử dụng năng lượng để phục vụ cho quá trình phát triển các nghành công nghiệp khác nhau. Và theo số liệu thống kê từ Bộ Công Thương thì trong năm 2010, tỷ trọng tiêu thụ năng lượng theo nghành như sau: Hình 1.1: Tỷ trọng tiêu thụ năng lượng theo nghành (Nguồn: Bộ Công Thương) Công nghiệp là khách hàng tiêu thụ năng lượng lớn nhất chiếm 39,9% trong tổng tiêu thụ năng lượng năm 2010, tăng 30,6% so với năm 2000. Các ngành 11 công nghiệp thép, vật liệu, xây dựng, giấy, hóa chất là những ngành công nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng nhất trong ngành công nghiệp. Dân dụng cũng là ngành tiêu thụ năng lượng lớn thứ hai.
Tỷ trọng của ngành trong tổng tiêu thụ năng lượng năm 2010 là 33,4% giảm từ 48,8% năm 2000. Tốc độ tăng của ngành dân dụng là 2,8% trong giai đoạn 2001-2010. Năng lượng tái tạo sinh khối vẫn còn là nguồn năng lượng chính sử dụng trong các hộ gia đình ở nông thôn. Tỷ trọng của ngành giao thông vân tải trong tổng tiêu thụ năng lượng tăng từ 14,7% năm 2000 lên 22% năm 2010 với tốc độ tăng là 11,2% trong cùng giai đoạn.
Năm 2010, ngành dịch vụ thương mại chiếm 3,5% trong tổng tiêu thụ năng lượng, giảm 4,4% so với năm 2000. Tốc độ tăng trung bình giai đoạn 2001- 2010 là 4,3%. Nông nghiệp là khách hàng tiêu thụ năng lượng nhỏ nhất chiếm 1,2% trong tổng năng lượng tiêu thụ ở năm 2010 và giảm 1,5% so với năm 2000. Hiện nay ở nước ta có 2 nguồn sản xuất điện năng chủ yếu là thủy điện và tuabin khí, bên cạnh các nguồn năng lượng khác như là: năng lượng mặt trời, gió….
Trong đó, thủy điện chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu năng lượng quốc gia (EVN, 2012). Được thể hiện rõ trong cơ cấu các nguồn năng lượng ở nước ta dưới đây: Hình 1.2: Hình vẽ thể hiện tỷ trọng các loại hình sản xuất điện năng trong HTĐ Việt Nam (Nguồn: Trung tâm điều độ hệ thống điện quốc gia) 12 Để đáp ứng được nhu cầu gia tăng về năng lượng theo thời gian cũng như việc hạn chế phải nhập khẩu điện từ Trung Quốc. Nước ta đã xây dựng một chiến lược để theo kịp đà tăng trưởng nêu trên. Bên cạnh các nguồn năng lượng hiện có và tìm kiếm thêm các nguồn năng lượng mới thì thủy điện vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu này.
Trong khi nguồn vốn ngân sách dành cho các nhà máy thủy điện còn hạn chế thì một chính sách xã hội hóa để giải quyết bài toán ngân sách cho các nhà máy thủy điện đã được khuyến khích với chủ trương là kêu gọi nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài (tư nhân). Đặc biệt là trong các dự án nhà máy thủy điện vừa và nhỏ khi nguồn vốn đầu tư cho các dự án này không thật sự quá lớn. Do vậy, sau khi đầu tư xây dựng xong một nhà máy thủy điện và đi vào thời kỳ hoạt động thì một tiêu chí hàng đầu được quan tâm nhất là làm sao nhà máy hoạt động hiệu quả để thu hồi được nguồn vốn đầu tư trong thời gian sớm nhất có thể cũng như đảm bảo hài hòa được các lợi ích: xã hội, con người, điều tiết lũ, tưới tiêu… Nên trong luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu để làm sao giúp các nhà đầu tư, nhà quản lý cần chú trọng, quan tâm và phát triển vào những vấn đề gì để nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ. Ở khu vực miền trung thì tỉnh Quảng Trị được xem như một ví dụ điển hình về sự phát triển “nóng” của thủy điện vừa và nhỏ.
Với hàng loạt nhà máy được xây dựng trong thời gian 5 năm trở lại đây như: nhà máy thủy điện LaLa, nhà máy thủy điện Rào Quán, nhà máy thủy điện Đakrông 2, Đakrông 3, Hạ Rào Quán… Vì vậy, tỉnh Quảng Trị sẽ được chọn để khảo sát và thu thập dữ liệu xuyên suốt trong toàn bộ luận văn này. Do vậy, học viên chọn đề tài nghiên cứu “Ứng dụng phương pháp Benchmarking đề nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ tại tỉnh Quảng Trị” với mong muốn góp phần giúp nhà máy thủy điện Hạ Rào Quán đánh giá lại mô hình hoạt động hiện nay, xây dựng chiến lược phát triển hiệu quả và bền vững cũng như là hài hòa các lợi ích khác trong tương lai. Mục tiêu nghiên cứu Qua đề tài này, học viên sử dụng phương pháp Benchmarking để đánh giá và nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà máy thủy điện vừa và nhỏ tại tỉnh Quảng Trị. Đồng thời chỉ ra được phương pháp Benchmarking và ứng dụng của nó.
Mục đích của việc nghiên cứu này là đưa ra biện pháp và công cụ hỗ trợ cho nhà máy trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà máy thủy điện vừa và nhỏ. Tuy nhiên, vì thời gian và nguồn lực có hạn nên ta chỉ tập trung nghiên cứu vào một số vấn đề chính sau: Đánh giá thực trạng tình hình hoạt động thực tế và hiệu quả của nhà máy thủy điện Hạ Rào Quán hiện nay. 13 So sánh và đánh giá quá trình hoạt động thực tế và hiệu quả của nhà máy so với các đối thủ cạnh tranh đang dẫn đầu tại Quảng Trị. Tìm ra giải pháp để cải tiến quá trình hoạt động, vận hành và nâng cao hiệu quả cho nhà máy thủy điện Hạ Rào Quán.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tƣợng nghiên cứu Đề tài nghiên cứu đánh giá tình hình hoạt động thực tế và hiệu quả của nhà máy thủy điện vừa và nhỏ sau khi đã xây dựng xong và đã đi vào hoạt động tại tỉnh Quảng Trị. Kết quả giúp các nhà máy có một cái nhìn toàn diện về những gì mình đã đạt được sau khi đã đi vào sản xuất kinh doanh điện. Từ đó giúp họ có thể đưa ra được những chính sách và chiến lược hợp lý để cải thiện tình hình hoạt động thực tế cũng như là nâng cao hiệu quả cho nhà máy.
Nhà máy áp dụng: Nhà máy thủy điện Hạ Rào Quán Nhà máy đối sách: Là 2 nhà máy đang hoạt động với hiệu quả kinh tế cao và có mô hình từ quá trình quản lý đến vận hành được đánh giá tốt so với mặt bằng chung toàn tỉnh Quảng Trị hiện nay bao gồm: Nhà máy thủy điện Đakrông 2, Đakrông 3. Đối tượng khảo sát là lãnh đạo nhà máy, Giám đốc, phó giám đốc, trưởng/ phó phòng kỹ thuật, điều hành… các kỹ sư trực tiếp phụ trách vận hành nhà máy thủy điện, các công ty điện lực, sở công thương tỉnh (nơi trực tiếp quản lý, theo dõi và điều tiết việc hòa vào mạng lưới điện quốc gia của các nhà máy). Họ được cho là những người có nhận thức tốt về vấn đề hiệu quả hoạt động của nhà máy với kinh nghiệm ít nhất là 2 năm trở lên. Phạm vi nghiên cứu Đề tài được thực hiện tại các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Trị.
Ý nghĩa của đề tài Kết quả của đề tài sẽ giúp nhà máy lên các kế hoạch cũng như là các chiến lược thực hiện cụ thể để nhà máy có thể hoạt động hiệu quả nhất với những mục tiêu mong muốn đã đề ra. Điều này sẽ được thực hiện trong một khung thời gian đã được định trước. Kết quả nghiên cứu không chỉ ứng dụng trong nhà máy thủy điện vừa và nhỏ mà còn là cơ sở cho các nghiên cứu tương tự đối với các nhà máy khác. Và đối với bản thân học viên: Qua việc thực hiện đề tài này, tác giả học được cách tiếp cận có hệ thống, nghiên cứu từ các bài báo khoa học, tạp chí chuyên nghành cho đến những kinh nghiệm công việc thực tế, và tổng hợp các kiến thức đã học cũng như là ứng dụng những lý thuyết khoa học vào việc giải quyết những vấn đề thực tế, qua đó góp phần 14 nâng cao trình độ nhận thức, phân tích, đánh giá và rút ra được các kinh nghiệm quý báu cho công việc cũng như là các nghiên cứu về sau này.
15 CHƢƠNG II: TỔNG QUAN 2. Giới thiệu Hoạt động của nhà máy thủy điện là sự kết hợp của nhiều yếu tố như: chất lượng và chi phí xây dựng của nhà máy thủy điện, nguồn nhân lực (con người), an toàn lao động trong nhà máy, công tác quản lý và vận hành nhà máy, đảm bảo được nguồn nước về hạ lưu lưu lượng và chế độ dòng chảy phù hợp… Sự phát triển “nhanh chóng” của các nhà máy thủy điện đã thúc đẩy các tổ chức và doanh nghiệp quan tâm tới việc so sánh và cải tiến quy trình, công cụ và kỹ thuật quản lý mà họ đang áp dụng. Có rất nhiều phương pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà máy thủy điện, trong đó phương pháp Benchmarking được xem như một công cụ hiệu quả giúp cải tiến công tác quản lý và vận nhà máy tốt hơn. Mặc dù phương pháp Benchmarking đã được nhiều nghành công nghiệp khác trên thế giới và trong nước áp dụng từ nhiều năm nay.
Tuy nhiên, đối với nghành xây dựng và đặc biệt là trong thủy điện nước ta thì hầu như rất ít áp dụng.