ĐẶT VẤN ĐỀ Biến đổi khí hậu đã và đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu, bao gồm cả các thay đổi trong thành phần hoá học của khí quyển, biến đổi nhiệt độ bề mặt, nƣớc biển dâng, các hiện tƣợng khí hậu cực đoan và thiên tai tăng lên đáng kể về số lƣợng và cƣờng độ. Những thay đổi này dẫn đến những thay đổi trong các hệ thống vật lý, hệ sinh học và hệ thống kinh tế - xã hội trên toàn hành tinh và đe doạ sự phát triển, đe doạ cuộc sống của tất cả các loài, các hệ sinh thái. Việt Nam đƣợc đánh giá là một trong những nƣớc bị ảnh hƣởng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu đã và đang gây ra các hậu quả nặng nề Việt Nam coi ứng phó với biến đổi khí hậu là vấn đề sống còn.
Biến đổi khí hậu gây ảnh hƣởng nhiều mặt trong đó có đa dạng sinh học, đó là một trong những thành phần bị tác động trực tiếp và thấy đƣợc hiệu quả rõ ràng nhất. BĐKH xẽ làm thay đổi điều kiện môi trƣờng sống, gây ảnh hƣởng đến sự sinh sản và phát triển của loài. Hiện tƣợng phổ biến thể hiện sự ảnh hƣởng BĐKH là các loài sinh vật phải thay đổi về khu vực và phạm vi phân bố di chuyển về những nơi cao hơn đề tìm kiếm khu vực có điều kiện khí hậu phù hợp. Từ thực tế đó việc đánh giá và dự đoán về ảnh hƣởng của BĐKH đến phân bố của một loài sinh vật là hết sức quan trọng từ đó thấay đƣợc tình trạng và xu hƣớng biến đổi của các loài nhằm đƣa ra những quyết định quản lý cũng nhƣ bảo tồn một cách hợp lý.
Thú linh trƣởng là nhóm động vật bậc cao và hầu hết các loài trong bộ đều đƣợc liệt kê trong sách đỏ thế giới và việt nam. Tuy nhiên hiện nay tình trạng của các quần thể thú linh trƣởng đang đứng trƣớc nguy cơ bị đe dọa rất nghiêm trọng trong đó có loài Voọc đen má trắng(Trachypithecus francoisi Pousargues, 1898). Loài có vùng phân bố rất hẹp chủ yếu tập trung ở các khu rừng nguyên sinh ít bị tác động con ngƣời tuy nhiên sinh cảnh sống ít ỏi cũng đang dần ít đi và bị chia cắt mạng hơn. Mô hình ổ sinh thái (ENMs) là công cụ rất hiệu quả mô phỏng vùng phân bố của các loài với dữ liệu đầu vào gồm các dữ liệu về sự có mặt và vắng mặt đƣợc ghi nhận từ ngoài thực tế và các dữ liệu về môi trƣờng đây là một công cụ 1 thƣờng xuyên đƣợc dùng để đánh giá cùng phân bố thích hợp của các loài, từ đó sử dụng chúng phục vụ cho công tác quản lý bảo tồn hoặc điều tra thực địa (Pearson, 2008) Trong đó mô hình MaxEnt là một trong những mô hình đƣợc sử dụng rỗng rãi và phổ biến để đánh giá vùng phân bố tiềm năng của loài.
Hiện nay ở Việt nam các nghiên cứu về loài Voọc đen má trắng chủ yếu tập chung nghiên cứu và ghi nhận sự có mặt và không có mặt của loài, điều tra kích thƣớc quần thể cũng nhƣ các đặc điểm sinh thái của chúng. Chúng ta vẫn chƣa có nghiên cứu chuyên sâu nào về ảnh hƣởng của BĐKH đến phân bố của chúng cũng nhƣ sự thay đổi của vùng phân bố đó trong tƣơng lai. Xuất phát từ những lý do trên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài : Ứng dụng phần mềm MaxEnt đánh giá ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu đến phân bố của loài Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi Pousargues, 1898). 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Loài Voọc đen má trắng(Trachypithecus francoisi Pousargues, 1898) Hình 1. 1 Loài Voọc đen má trắng (nguồn:vncreatures. Đặc điểm nhận dạng Bộ lông dày, màu đen tuyền. Hai má trắng, đám lông trắng rộng vƣợt quá chỏm vành tai.
Đầu thƣờng có mào lông đen. Đuôi dài hơn thân, mầu đen. Sinh học, sinh thái Voọc đen má trắng chủ yếu sống ở rừng trên núi đá vôi và kiếm ăn trong các dải rừng kín thƣờng xanh tiếp giáp với rừng núi đá vôi gân vung sống của chúng. Voọc đen má trắng sống đàn.
Trƣớc đây, đàn voọc thƣờng rất đông, 20 - 30 con (Lê Hiền Hào, 1973), nhƣng hiện nay phổ biến tƣ 5 đến 15 con (Phạm Nhật, 2000). Hoạt động kiếm ăn của Voọc đen má trắng diễn ra ngay hai buổi sáng và chiều, trƣa nghỉ. Cƣờng độ kiếm ăn của voọc má trắng diễn ra mạnh vào hai thời điểm, đầu buổi sáng đến khoảng 10 giờ và từ 14 giờ đến 16 giờ 30 phút. Thời gian hoạt động trong ngày có khác nhau.
Mùa nóng Voọc rời chỗ ngủ sớm, về hang muộn va thời gian nghỉ trƣa khá dài. Về mùa lạnh, chúng đi kiếm ăn muộn và về hang ngủ sớm. Voọc đen má trắng ăn lá chồi non và quả cây rừng, không ăn động vật (sinh vật rừng Việt Nam).Bƣớc đầu đã ghi nhận đƣợc 44 loài thuộc 22 họ thực vật đƣợc Voọc đen má trắng sử dụng làm thức ăn (Phạm Nhật, Thú linh trƣởng ở Việt Nam ,2000). Có nhiều loài thực vật đƣợc Voọc đen má trắng thích ăn nhất là cây họ Dâu tằm Moraceae, Ba mảnh vỏ Ephorbiaceae, Cau 3 dừa Arecaceae.
Các số liệu nghiên cứu cho thấy tuy Voọc má trắng ăn rất nhiều loại quả nhƣng trong khẩu phần thức ăn thì khối lƣợng lá, đặc biệt là cuộng chiếm tỷ lệ nhiều hơn các loại thức ăn quả và thân. Voọc đen má trắng chủ yếu ngủ hang. Mùa nóng, chúng ngủ trên những tảng đá hoặc cây gỗ trƣớc cửa hang, mùa lạnh ngủ trong hang. Hang ngủ của Voọc thƣờng tìm thấy ở những nơi vách đá dựng đứng.
Dẫn liệu sinh sản của Voọc đen má trắng còn thiếu. Quan sát thực địa thƣờng gặp con mẹ mang con non ở các tháng khác nhau của năm, nhƣng tập chung từ tháng 3 đến tháng 7. Mỗi lứa đẻ một con, con non mới đẻ có bộ lông màu vàng. Tình trạng bảo tồn Sách đỏ việt nam(2007) : Nguy cấp (EN) Sách đỏ IUCN (2018) : Nguy cấp (EN) Nghị định 32/(2006) : Mục (IB) Nghị định 60/2013 Hình 1.
2 Bản đồ phân bố loài Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi Pousargues, 1898) (nguồn: iucn. Vùng phân bố của loài Voọc đen má trắng Phân bố trên thế giới: miền nam Trung Quốc (Trùng Khánh, Quảng Tây, Quý Châu và Trùng Khánh ở tỉnh Tứ Xuyên). Trong nƣớc phân bố: ở Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Lạng Sơn. Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của BĐKH đến các vùng phân bố của loài Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi Pousargues, 1898) Phần mềm MaxEnt là mô hình rất phổ biến trong xây dựng mô hình ổ sinh thái (phân bố) của các loài, đã đƣợc hàng nghìn đề tài ứng dụng (Warrenvà Seifert, 2011) Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu sử dụng mô hình ổ sinh thái để nghiên cứu về vùng phân bố tiềm năng của các loài trong đó có cả các loài động vật và thực vật.
Dƣới đây là một số nghiên cứu về mô hình ổ sinh thái đã đƣợc tiến hành có những nét tƣơng đồng với nghiên cứu này. Zonneveld và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu ảnh hƣởng của BĐKH đến phân bố tự nhiên của các loài Thông nhựa và Thông ba lá ở khu vực Đông Nam Á (chủ yếu là ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Campuchia và Mianma). Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng mô hình MaxEnt cùng với các dữ liệu gồm 19 biến sinh khí hậu và dữ liệu về sự có mặt của các đối tƣợng nghiên cứu để đánh giá sự thay đổi vùng phân bố dƣới tác động của BĐKH (Zonneveld và cs, 2009) Kết quả của mô hình đã chỉ ra sự thay đổi về vị trí vùng phân bố thích hợp và sự thu hẹp lại diện tích thích hợp của các đối tƣợng nghiên cứu. Nghiên cứu về vùng phân bố tiềm năng dựa trên mô hình ổ sinh thái của các loài động vật cũng đã đƣợc tiến hành.Gormley và cộng sự (2011), đã tiến hành nghiên cứu vùng phân bố hiện tại và vùng phân bố tiềm năng của loài Nai (Cervus unicolor) dựa trên các dữ liệu về sự có mặt và dữ liệu về sự vắng mặt tại bang Victoria của Australia.
Các tác giả cũng đã sử dụng phần mềm MaxEnt để mô hình hóa vùng phân bố của đối tƣợng nghiên cứu. Ngoài các biến về khí hậu, các tác giả đã sử dụng các biến liên quan đến ổ sinh thái của loài nhƣ lớp phủ thảm thực vật, độ dốc, khoảng cách đến đƣờng giao thông…điều này sẽ giúp cho tăng độ chính xác của mô hình hơn. 5 Tại Việt Nam, các nghiên cứu về vùng phân bố của các loài chƣa nhiều. Hiện nay, Việt Nam chƣa có nghiên cứu về sự ảnh hƣởng của BĐKH đến vùng phân bố của các loài Vƣợn.
Về các loài linh trƣởng khác, Vũ Văn Mạnh và cộng sự (2010) đã tiến hành nghiên cứu vùng phân bố của loài Vọoc mũi hếch tại miền Bắc của Việt Nam theo một số kịch bản BĐKH. Các tác giả cũng đã sử dụng 19 biến sinh khí hậu (Bioclim) cùng với phần mềm DIVA-GIS để mô hình hóa vùng phân bố của đối tƣợng nghiên cứu theo các kịch bản khí hậu. Kết quả của mô hình cho thấy, vùng phần bố tiềm năng của loài Vọoc mũi hếch có xu hƣớng thu hẹp lại và dịch chuyển về phía Bắc. Vùng phân bố này cần phải đƣợc so sánh với lớp bản đồ trạng thái rừng để chính xác hơn.
Bên cạnh đó, điểm hạn chế của phần mềm DIVA-GIS là cần phải sử dụng dung lƣợng mẫu lớn. Mô hình ổ sinh thái Mô hình ổ sinh thái (ENMs) là phƣơng pháp sử dụng các dữ liệu ghi nhận vị trí xuất hiện của loài tại thời điểm hiện tại kết hợp với dữ liệu môi trƣờng, từ đó tạo ra các mô hình tƣơng ứng với các điều kiện môi trƣờng đáp ứng đƣợc yêu cầu sinh thái của loài và dự đoán khu vực thích hợp với loài. ENMs thƣờng đƣợc sử dụng bởi cácmục đích sau: (1) đánh giá/ƣớc tính các khu vực có điều kiện thích hợp với loài;(2) đánh giá sự thay đổi vùng phân bốcủa loài trong khoảng thời gian nhất định dựa trên các kịch bản về sự thay đổi điều kiện môi trƣờng; (3) đánh giá các ổ sinh thái hay các yêu cầu sinh thái của các loài (Warren và Seifert, 2011). ENMs có thể sử dụng nhiều biến khí hậu khác nhau.Các dữ liệu thƣờng đƣợc sử dụng trong mô hình sinh thái đó là các chỉ số môi trƣờng (ví dụ nhƣ nhiệt độ, lƣợng mƣa, độ cao.) và cácdữ liệu về vị trí phân bố của loài.