CHƯƠNG 1: LÝ THUYÉT MÔ HÌNH 1. Lý thuyết mô hình Fama- French 1. Mô hình một nhân tô và mô hình đa nhân to 1. Mô hình một nhân tổ Mô hình một nhân tố, hay còn được gọi là Single Factor Model, là một công cụ phân tích tài chính phô biến trong lĩnh vực định giá tài sản.
Theo đó, mô hình này giải thích sự biến động của giá tài sản bằng một nhân tố duy nhất. Có thể hiểu đơn giản rằng, mô hình này tập trung vào yếu tố quan trọng nhất dé giải thích sự biến động giá của tài sản. Điểm đặc trưng của mô hình này là giả định rang giá của một tài sản bị ảnh hưởng bởi một nhân tố chung, được gọi là nhân tố duy nhất. Nhân tố này có thé là tác động của thị trường chung, tình hình kinh tế, lãi suất, hoặc các yếu tố khác ảnh hưởng đến giá của tài sản.
Do vậy, nhà đầu tư có thé dự đoán tương đối chính xác sự biến động giá của tài sản dựa trên yêu tô này. Mô hình một nhân tố được sử dụng rộng rãi trong phân tích định giá cô phiếu, quỹ đầu tư, và các loại tài sản khác. Nó giúp nhà đầu tư đánh giá các rủi ro và lợi nhuận của việc đầu tư vào một tài sản cụ thé. Bằng cách dự đoán sự biến động giá của tai sản dựa trên nhân tố duy nhất, nhà đầu tư có thé quyết định liệu việc đầu tư vào tài sản đó có đáng giá hay không.
Mô hình một nhân tố cũng giúp đơn giản hóa việc định giá tài sản và giảm thiểu rủi ro đầu tư. Tuy nhiên, mô hình này cũng có nhược điểm là chỉ giải thích được một phần nhỏ sự biến động giá của tài sản. Thị trường chứng khoán phức tạp hơn rất nhiều so với mô hình này, vì vậy mô hình một nhân tố thường không đủ để giải thích toàn bộ sự biến động giá của tài sản. Do đó, dé đánh giá đầy đủ các yếu tố ảnh hưởng đên giá tài sản, các mô hình phân tích khác cũng cân được sử dụng.
Mô hình da nhân tổ Mô hình đa nhân tổ là một mô hình tài chính được sử dụng dé giải thích các hiện tượng thị trường và giá tài sản cân bằng bang cách sử dụng nhiều yếu tổ trong tính toán của nó. Mô hình này được sử dụng đề phân tích sự biến động của giá tài sản bằng cách xem xét các yếu tô cơ bản, kỹ thuật và thị trường. Các yếu tố cơ bản bao gồm các chỉ số kinh tế như GDP, lãi suất, tỷ giá hối đoái. Các yêu tố kỹ thuật bao gồm các chỉ báo kỹ thuật như MACD, RSI và MA.
Các yếu tố thị trường bao gồm sự biến động của thị trường chung và các chỉ số đo lường mức độ rủi ro. Bằng cách phân tích các yếu tố này cùng với giá tài sản, mô hình đa nhân tố có thé giúp giải thích các biến động của giá tài sản và dự báo xu hướng giá trong tương lai. Ngoài ra, nó cũng có thé được sử dung dé đánh giá hiệu quả của một danh mục đầu tư bằng cách so sánh các yếu tố khác nhau và tính toán lợi nhuận kỳ vọng va rủi ro của danh mục đó. Các mô hình đa nhân tố được sử dụng dé xây dựng danh mục dau tư với các đặc điểm nhất định, chăng hạn như rủi ro hoặc để theo dõi các chỉ số.
Khi xây dựng một mô hình đa nhân tó, rất khó dé quyết định có bao nhiêu và những nhân tố nào sẽ được đưa vào. Ngoài ra, các mô hình được đánh giá dựa trên các con số lịch sử, có thê không dự đoán chính xác các giá trị trong tương lai. Các mô hình đa nhân tố cũng giúp giải thích trọng số của các yếu tố khác nhau được sử dụng trong các mô hình, cho biết yếu tô nào có tác động nhiều hơn đến giá của một tài sản. Mô hình đa nhân tổ có thé được sử dụng trong tat cả các ngành, có thé là tài chính, kinh tế hoặc toán học.
Nói chung, ba loại mô hình đa yếu tổ có thé được phân loại dựa trên loại yếu tố được sử dụng: Một là mô hình nhân tố kinh tế vĩ mô Trong các mô hình yếu tố kinh tế vĩ mô, các yếu tổ được kết hợp với sự bat ngờ trong các biên sô kinh tê vĩ mô giúp giải thích lợi nhuận của các loại tài sản. Lợi nhuận bat ngờ hoặc tăng dần có thể được tính bang giá trị thực tế trừ giá trị dự báo và giá trị trung bình của lợi nhuận thường bang 0. Hai là mô hình yếu tổ cơ bản Trong các mô hình cơ bản, các yếu tô là đặc điểm của cô phiếu hoặc công ty có thê được sử dụng để giải thích sự thay đổi của giá cô phiếu. Ví dụ về các yếu tố đó là tỷ số giá trên thu nhập Tỷ lệ thu nhập giá Tỷ lệ thu nhập giá (P / E Ratio) là mối quan hệ giữa giá cô phiếu của một công ty và thu nhập trên mỗi cô phiếu.
Nó mang lại cho các nhà đầu tư cảm nhận tốt hơn về giá trị của một công ty. P/E thể hiện kỳ vọng của thị trường và là mức giá bạn phải trả cho mỗi đơn vị thu nhập hiện tại (hoặc tương lai), vốn hóa thị trường và đòn bay tài chính. Các mô hình yếu tố cơ bản sử dụng lợi tức tài sản và sau khi xác định độ nhạy của yếu tố, lợi nhuận được tính bang cách chạy hồi quy. Ba là mô hình nhân to thống kê Trong các mô hình nhân tổ thống kê, phương pháp thống kê được áp dụng cho dữ liệu lich sử của lợi nhuận và được sử dụng dé giải thích hiệp phương sai.
Mô hình APT 1. Giới thiệu mô hình APT Mô hình APT (Arbitrage Pricing Theory) là một mô hình giá trị tài sản được phát triển bởi nhà kinh tế học Stephen Ross vào những năm 1970 để giải thích tỷ suất sinh lợi của một khoản đầu tư dựa trên các yếu tố rủi ro khác nhau. Theo mô hình APT, giá của một tài sản phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sự thay đổi lãi suất, thay đổi giá ca, thay đổi trong tỷ giá hối đoái và thay đổi trong tình trạng kinh tế. Mô hình APT cho rằng, nếu một tài sản có lợi nhuận cao hơn hoặc thấp hơn so với mức lợi nhuận kỳ vọng của nó, điều này có thể được giải thích bởi sự khác biệt giữa các yếu tổ thị trường.
Vì vậy, mô hình APT cũng được gọi là mô hình định giá bởi yêu tô. Các giả định của mô hình APT Một là giá định một nhân tố: Giả định này cho rằng tỷ suất sinh lợi có thê được mô tả bằng mô hình một nhân tố. Theo đó, giá trị của một tài sản hoặc danh mục đầu tư được ảnh hưởng bởi một nhân tố duy nhất. Thường thì nhân tố này được xác định là chênh lệch giữa tỷ suất sinh lợi của thị trường chung và tỷ suất lãi suất không rủi ro.
Tỷ suất sinh lợi của một tài sản hoặc danh mục đầu tư sẽ tăng nếu chênh lệch này tăng, và giảm nêu chênh lệch này giảm. Hai là không có cơ hội kinh doanh chênh lệch: Giả định cho rằng không có cơ hội kinh doanh nào có thé tạo ra lợi nhuận cao hơn mà không đòi hỏi rủi ro cao hơn. Nếu giả định này không được thỏa mãn, các nhà đầu tư có thể tìm thấy các cơ hội kinh doanh chênh lệch, đặt cược trên các quy ước giá tri tài sản khác nhau ở các thi trường khác nhau và tạo ra lợi nhuận không rủi ro hoặc rủi ro thấp. Điều này sẽ dẫn đến sự suy giảm của giá trị tài sản và mô hình định giá sẽ không còn có giá trị.
Ba là thị trường tài chính không có các bat hoàn hảo: Ñó mô tả một thị trường hoàn hảo, trong đó các tác nhân tham gia đều có thông tin đầy đủ và chính xác về tất cả các khoản đầu tư, không có chỉ phí giao dịch, không có thuế và các tác nhân tham gia đều có thé mua và bán tùy ý các khoản đầu tư. Với giả định này, các tác nhân tham gia sẽ đưa ra các quyết định đầu tư dựa trên các thông tin đầy đủ và chính xác về các khoản đầu tư, giá trị của các khoản đầu tư sẽ phản ánh đầy đủ thông tin, do đó giá trị của các khoản đầu tư sẽ phản ánh chính xác giá trị của chúng. Giả định này cũng cho phép các tác nhân tham gia tối ưu hóa danh mục đầu tư của mình và tạo ra giá cả cạnh tranh giữa các khoản đâu tư. Bon là một lượng chứng khoản du lớn để xây dựng một danh mục dau tư đa dạng hóa tot, loại bỏ các rủi ro riêng có cua các chứng khoán riêng rẽ: Giả định nay đề cập đến khả năng xây dựng một danh mục đầu tư đa dạng hóa tốt bằng cách sử dụng một lượng chứng khoán đủ lớn.
Từ đó, ta có thể loại bỏ các rủi ro riêng lẻ của từng chứng khoán và tận dụng các lợi ích từ đa dang hóa dé giảm thiểu rủi ro toàn cục của danh mục đầu tư. Tuy nhiên, dé dam bảo rang danh muc dau tu da dang hóa tốt, ta cần chọn một lượng chứng khoán đủ lớn và phù hợp để đạt được sự đa dạng hóa. Điều này còn phụ thuộc vảo tính độc lập của các chứng khoán trong danh mục và tính tương quan gitra chúng. Mô hình APT một nhân to Mô hình một nhân tố diễn tả tỷ suất sinh lời của chứng khoán i (r;) chịu sự tác động của một nhân tô F, thường được xem là nhân tổ thị trường và nhà đầu tư không thé da dạng hóa.
Với /; là mức độ nhạy cảm của chứng khoán i đối với nhân tô F. Như vậy, mô hình APT một nhân tố được biểu diễn dưới dạng: Trị =a +B x Fị Trong đó: a; là tỷ suất sinh lời kỳ vọng của chứng khoán i Ø, 1a mức độ nhạy cảm của chứng khoán i đối với nhân tô F £¡ là nhân tố đặc trưng riêng có của chứng khoán i và có thé đa dạng hóa được Công thức trên giống với công thức của mô hình APT vì chỉ có một nhân tố thị trường. Tức là, ta tìm được mối quan hệ lợi nhuận và yếu tố rủi to thi trường giống như mô hình CAPM mà không cần phải có các giả định về tiếp cận danh mục thị trường và điêu kiện cân băng. Đây là mô hình APT vì được thiết lập dựa vào điều kiện không có cơ hội kinh doanh chênh lệch giá.