MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết đề tài Theo số liệu thống kê của Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nƣớc thì trong 10 năm trở lại đây, quy mô huy động vốn qua thị trƣờng chứng khoán đáp ứng khoảng 23% tổng vốn đầu tƣ toàn xã hội, tƣơng đƣơng gần 60% so với cung tín dụng qua thị trƣờng tiền tệ - tín dụng. Điều này cho thấy thị trƣờng chứng khoán đang ngày càng trở thành một trong những kênh huy động vốn quan trọng và đồng thời cũng thu hút nhiều sự đầu tƣ từ các cá nhân, tổ chức cả trong và ngoài nƣớc. Tuy nhiên, thực tế cho thấy đa số các nhà đầu tƣ cá nhân bị giới hạn kiến thức về đầu tƣ tài chính nên chủ yếu đầu tƣ lƣớt sóng, đầu tƣ theo xu thế đám đông, theo cảm tính và thiếu phƣơng pháp khoa học.
Điều này đã khiến cho thị trƣờng chứng khoán Việt Nam có những lúc ngoài tầm kiểm soát, khiến việc đầu tƣ chứng khoán mang rủi ro cao, bị méo mó, làm mất niềm tin của các nhà đầu tƣ cũng nhƣ kiềm hãm sự phát triển lành mạnh và ổn định của thị trƣờng, điển hình nhất là vào năm 2007. Trƣớc thực trạng của thị trƣờng chứng khoán Việt Nam nhƣ vậy đã cho thấy sự cần thiết phải ứng dụng các mô hình kinh tế tài chính vào các quyết định đầu tƣ cũng nhƣ các hoạt động kinh doanh chứng khoán. Cho đến thời điểm hiện tại, trong giới học thuật đã và đang có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về sự ứng dụng của các mô hình đầu tƣ tài chính vào thị trƣờng chứng khoán trên thế giới và đã mang lại nhiều kết quả có ý nghĩa vô cùng thiết thực, một trong số đó là mô hình 5 nhân tố của Fama – French. Sau khi đƣợc công bố, mô hình 5 nhân tố Fama-French đã nhận đƣợc sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu.
Phần lớn các thực nghiệm trên thế giới chỉ ra rằng, mô hình năm nhân tố Fama – French phù hợp hơn mô hình CAPM cũng nhƣ mô hình ba nhân tố Fama – French (1993) trong việc giải thích cho sự thay đổi lợi nhuận của cổ Luan van 2 phiếu. Vậy, liệu rằng mô hình này có phù hợp cho thị trƣờng chứng khoán Việt Nam mà đại diện là SGDCK TP. Hồ Chí Minh – HOSE. Với đề tài nghiên cứu ”Vận dụng mô hình Fama – French năm nhân tố để ƣớc lƣợng tỷ suất lợi tức kỳ vọng của các cổ phiếu niêm yết trên SGDCK thành phố Hồ Chí Minh”, em hy vọng sẽ tìm đƣợc lời giải đáp cho câu hỏi trên.
Kết quả của nghiên cứu này cũng sẽ bổ sung những bằng chứng thực nghiệm về tính hợp lý của mô hình năm nhân tố Fama – French trong điều kiện thị trƣờng chứng khoán Việt Nam và đƣa ra các khuyến nghị về đầu tƣ đối với các nhà đầu tƣ, nhà hoạch định chính sách và các chủ thể có liên quan; từ đó góp phần thúc đẩy thị trƣờng chứng khoán Việt Nam phát triển một cách ổn định và bền vững hơn. Mục đích nghiên cứu - Kiểm định mô hình Fama – French năm nhân tố với các dữ liệu thu thập tại thị trƣờng chứng khoán Việt Nam mà cụ thể là tại SGDCK TP. - Đƣa ra một vài khuyến nghị đối với các nhà đầu tƣ, các nhà hoạch định chính sách và các chủ thể có liên quan. Câu hỏi nghiên cứu Để đạt đƣợc các mục tiêu trên, đề tài đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu sau: - Các nhân tố nào có thể ảnh hƣởng đến tỷ suất lợi tức kỳ vọng của cổ phiếu và sự tác động của các nhân tố này tại thị trƣờng chứng khoán Việt Nam nhƣ thế nào? - Có thể s dụng mô hình Fama – French 5 nhân tố để ƣớc lƣợng tỳ suất lợi tức kỳ vọng trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam hay không và các nhà đầu tƣ, nhà hoạch định chính sách, các chủ thể có liên quan nên lƣu ý Luan van 3 những vấn đề gì khi s dụng mô hình cũng nhƣ các kết quả ƣớc lƣợng từ mô hình.
Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là kiểm định và vận dụng mô hình đầu tƣ tài chính hiện đại Fama-French năm nhân tố trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu - Nội dung: S dụng mô hình Fama-French năm nhân tố để nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến tỷ suất lợi tức kỳ vọng của cổ phiếu trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. - Không gian: Thu thập dữ liệu về giá đóng c a của các cổ phiếu niêm yết trên SGDCK TP. - Thời gian: Trong giai đoạn 3 năm từ 01/01/2014 đến 19/10/2016.
Phƣơng pháp nghiên cứu - Dữ liệu nghiên cứu: Thu thập số liệu lịch s về giá chứng khoán đƣợc công bố trên SGDCK TP. HCM – HOSE và các nguồn dữ liệu khác trên website của các công ty chứng khoán. - Mô hình nghiên cứu: Nghiên cứu dựa trên mô hình Fama-French năm nhân tố (2014). - S dụng phƣơng pháp bình phƣơng bé nhất thông thƣờng (Ordinary Least Square – OLS) để ƣớc lƣợng các hệ số bêta trong mô hình nghiên cứu.
Bố cục đề tài Nội dung đề tài đƣợc trình bày gồm 4 phần nhƣ sau: - Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết và thực nghiệm về định giá chứng khoán - Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu - Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu - Chƣơng 4: Kết luận và hàm ý chính sách Luan van 4 8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa các lý luận, các kết quả nghiên cứu về mô hình năm nhân tố Fama – French, bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm về mô hình này trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam mà đại diện là các cổ phiếu niêm yết trên SGDCK TP HCM. - Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài góp phần xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến tỷ suất lợi tức chứng khoán trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, từ đó các nhà đầu tƣ có thể nhận định đƣợc xu hƣớng biến động tỷ suất lợi tức của chứng khoán trên thị trƣờng và đƣa ra các quyết định đầu tƣ hợp lý. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Eugene F.
Fama and Kenneth R. French (2014): “Five Factors Model”. Trong bài nghiên cứu này, Fama – French đã công bố chính thức lần đầu tiên mô hình năm nhân tố của mình với các nhân tố ảnh hƣởng đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu bao gồm: Nhân tố thị trƣờng, nhân tố quy mô công ty, nhân tố giá trị (tỷ số BE/ME), nhân tố lợi nhuận và nhân tố khuynh hƣớng đầu tƣ. Mẫu nghiên cứu là các cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán New York trong giai đoạn từ 7/1963 đến 12/2013 với tần suất tháng.
Dựa trên cơ sở quy mô công ty, tỷ số BE/ME, lợi nhuận và khuynh hƣớng đầu tƣ, các tác giả đã chia các cổ phiếu thành 5 nhóm bằng nhau sau đó kết hợp lại và thu đƣợc tất cả 25 danh mục đầu tƣ, nhằm thể hiện rõ các hiệu ứng giá trị, quy mô, lợi nhuận và xu hƣớng đầu tƣ lên tỷ suất lợi tức. Các tác giả còn chỉ ra nhiều cách để đo lƣờng các biến trong mô hình gồm biến phần bù quy mô (SMB), phần bù giá trị (HML), phần bù lợi nhuận (RMW), phần bù khuynh hƣớng đầu tƣ (CMA) bằng cách chia nhóm các cổ phiếu thành các kết hợp 2x3, 2x2, 2x2x2. Dựa trên các kết quả nghiên cứu, Fama – French kết luận rằng nhân tố lợi nhuận và nhân tố xu hƣớng đầu tƣ đều có mối tƣơng quan với Luan van 5 tỷ suất lợi tức của cổ phiếu, nhƣng nhân tố giá trị (HML) lại trở thành biến thừa trong mô hình và không có ý nghĩa thống kê. Carneiro Martins và William Eid Jr (2015), “Pricing Assets with Fama and French 5 Factor Model: a Brazilian market novelty”.
Bài nghiên cứu của tác giả nhằm mục đích kiểm định mô hình năm nhân tố của Fama – French trên thị trƣờng chứng khoán Brazilian. Trong đó, nhân tố lợi nhuận – OP (Operating Profitability) đƣợc đo lƣờng bằng tỷ số giữa EBIT (lợi nhuận trƣớc thuế và chi phí lãi vay) trên BE (giá trị sổ sách vốn chủ sở hữu); và nhân tố xu hƣớng đầu tƣ – Inv (Investment) đƣợc đo lƣờng bằng tốc độ tăng tổng tài sản qua từng năm. Các danh mục đầu tƣ đƣợc xây dựng dựa trên năm nhân tố, cụ thể là quy mô đƣợc chia thành 2 nhóm là Small và Big dựa trên giá trị trung vị quy mô công ty; các nhân tố còn lại bao gồm nhân tố giá trị B/M, nhân tố lợi nhuận – OP, nhân tố khuynh hƣớng đầu tƣ – Inv đƣợc chia thành 3 nhóm lần lƣợt là nhóm công ty có tỷ số B/M thấp (Low), trung bình (Neutral), cao (High); nhóm công ty có lợi nhuận thấp (Weak), trung bình (Neutral), cao (Robust); nhóm công ty có xu hƣớng đầu tƣ ít (Conserv), trung bình (Neutral), nhiều (Aggress). Nhƣ vậy có tổng cộng 18 danh mục đầu tƣ là SL, SN, SH; SW, SN, SR; SC, SN, SA; BL, BN, BH; BW, BN, BR; BC, BN, BA đƣợc thiết lập.
Qua kết quả nghiên cứu, các tác giả thấy rằng công ty có quy mô nhỏ có tỷ suất lợi tức cao hơn so với các công ty có quy mô lớn và điều này cũng đồng tình với kết luận của Fama – French (2014) về phần bù rủi ro quy mô (hay còn gọi là hiệu ứng quy mô). Thêm vào đó, tác giả cũng nhận thấy rằng tỷ suất lợi tức có mối tƣơng quan nghịch với tỷ lệ B/M, có tƣơng quan thuận với nhân tố lợi nhuận – OP và hầu nhƣ không có ý nghĩa thống kê đối với nhân tố đầu tƣ – Inv. Đặc biệt, hệ số beta của nhân tố thị trƣờng trong mô hình luôn có ý nghĩa thống kê trên 18 danh mục. Luan van 6 Eugene F.
Fama and Kenneth R. French (1995): “Size and book-to- market factors in earnings and returns”. Là nghiên cứu thực nghiệm cho mô hình ba nhân tố đƣợc Fama – French công bố vào năm 1993. Các tác giả đã chứng minh rằng chỉ số thị trƣờng, quy mô công ty và tỷ số BE/ME là những nhân tố ảnh hƣởng đến tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu và mô hình ba nhân tố của mình tốt hơn mô hình CAPM trong việc giải thích tỷ suất sinh lợi của chứng khoán.
Võ Hồng Đức & Mai Duy Tân (2014), “Ứng dụng mô hình Fama – French 3 nhân tố cho Việt Nam: Cách tiếp cận mới về phân chia danh mục đầu tƣ”. Đây là bài nghiên cứu tiên phong về các phƣơng pháp phân chia danh mục đầu tƣ khác nhau với cơ sở dữ liệu tại Việt Nam liên quan đến mô hình Fama – French 3 nhân tố.