Tổng quan luận án
Khe hở môi và vòm miệng (KHM-VM) là dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt thường gặp tại Việt Nam và trên thế giới, với tỷ lệ ghi nhận tại Việt Nam dao động trong khoảng 1/1000 đến 2/1000. Quá trình điều trị dị tật này đòi hỏi sự phối hợp toàn diện, bắt đầu từ những tháng đầu đời và kéo dài suốt 20 năm đầu của cuộc đời bệnh nhân. Các phẫu thuật tạo hình thì đầu thường được thực hiện ở giai đoạn sớm (tạo hình môi lúc 3 tháng tuổi và tạo hình vòm miệng lúc 18 tháng tuổi). Tuy nhiên, sẹo xơ sau phẫu thuật vòm miệng thường hạn chế sự phát triển theo chiều ngang của xương hàm trên, làm gia tăng nguy cơ cắn chéo răng sau, chân cánh mũi bên khe hở bị sập do thiếu nền xương nâng đỡ, khuyết hổng xương ổ răng và tồn tại lỗ thông mũi miệng (ONF).
Ghép xương ổ răng tự thân là giải pháp được thiết lập nhằm phục hồi liên tục cung hàm và cung cấp nền xương cho răng mọc. Tuy nhiên, sự tiêu xương của mảnh ghép tự thân sau phẫu thuật diễn ra đáng kể (theo Merkx và cộng sự, sự tiêu xương bắt đầu từ tuần thứ 3 đến tuần thứ 6 sau ghép, để lại các hốc rỗng). Việc phối hợp xương tự thân với huyết tương giàu yếu tố tăng trưởng (Platelet-Rich Plasma - PRP) tự thân nhằm kích thích lành thương và giảm mức độ tiêu xương đã được nghiên cứu trên thế giới, song tại Việt Nam chưa có công trình nghiên cứu khoa học có hệ thống đối chứng về phương pháp này.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm:
- Mô tả đặc điểm lâm sàng và X quang của bệnh nhân khe hở cung hàm có chỉ định ghép xương ổ răng tự thân tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội và Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ năm 2014-2019.
- Đánh giá kết quả điều trị giữa hai nhóm có và không sử dụng huyết tương giàu yếu tố tăng trưởng.
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân đã được phẫu thuật tạo hình khe hở môi và vòm miệng toàn bộ một bên, có chỉ định phẫu thuật ghép xương khe hở cung hàm (chưa phẫu thuật hoặc đã phẫu thuật nhưng còn thiếu xương), điều trị tại Khoa Răng Hàm Mặt - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội và Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội trong giai đoạn từ tháng 9 năm 2014 đến tháng 9 năm 2019.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các mốc lịch sử và nghiên cứu thực nghiệm về kỹ thuật ghép xương khe hở cung hàm:
- Lexer (1908): Tác giả đầu tiên thực hiện ghép xương ổ răng ở khe hở cung hàm đồng thời với phẫu thuật tạo hình môi và vòm miệng bằng xương tự thân.
- Boyne và Sands (1972), Abyholm (1981): Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết kế vạt phần mềm che phủ và lần đầu tiên sử dụng xương mào chậu để ghép vào khe hở cung hàm ở giai đoạn mọc răng nanh.
- Waite và Kersten (1980): Thực hiện ghép xương xốp mào chậu trên 52 bệnh nhân ở giai đoạn mọc răng nanh, ghi nhận 3 trường hợp bị đào thải mảnh ghép.
- Olekas J và Zaleckas L (2003): Nghiên cứu ghép kết hợp xương vỏ và xương xốp mào chậu trên 76 bệnh nhân ở giai đoạn mọc răng nanh, ghi nhận sự hình thành cầu xương và biểu mô bám dính.
- Akbarzadeh và cộng sự (2009): So sánh xương bò với xương tự thân trong điều trị khe hở cung hàm, kết luận chưa đủ bằng chứng chứng minh xương bò có hiệu quả vượt trội hơn xương tự thân dù tránh được phẫu thuật lấy xương.
- Ruiter và cộng sự (2013): Nghiên cứu sử dụng calcium phosphate ceramic để bù khuyết hổng sau khi lấy xương cằm trên phim 3D, đánh giá khả năng thay thế của vật liệu tiêu chậm.
- Chandan Gupta và cộng sự (2013): Nghiên cứu trên 20 bệnh nhân (9-29 tuổi) chia làm hai nhóm có và không sử dụng PRP; nhóm có PRP đạt tỷ lệ lành thương sau 7 ngày trên 90%, không có ca đào thải mảnh ghép (so với 10% đào thải ở nhóm không PRP), giảm sưng đau và tăng tỷ trọng xương ghép ($1028 \pm 11{,}30$ so với $859$).
- Gholamreza Shirani và cộng sự (2017): So sánh ghép xương mào chậu phối hợp PRP với xương đông khô đồng loại phối hợp PRP, ghi nhận nhóm xương mào chậu kết hợp PRP đạt kết quả điều trị thành công cao hơn.
Hệ thống đánh giá tiêu xương và kết quả phẫu thuật trên X quang qua các công trình:
- Phân loại Oslo (Abyholm 1981, Bergland 1986): Đánh giá chiều cao vách xương ổ răng gồm Loại I (xấp xỉ bình thường), Loại II ($\ge 3/4$ chiều cao bình thường), Loại III ($< 3/4$ chiều cao bình thường), Loại IV (thất bại).
- Long Jr (1995): Nghiên cứu trên 56 khe hở, đánh giá đường viền xương ghép so với chân răng bên lành (đạt 93%) và bên khe hở (đạt 96%), tỷ lệ hình thành cầu xương đạt 91%.
- Kindelan và cộng sự (1997): Đưa ra thang điểm 4 mức độ dựa trên tỷ lệ phần trăm lấp đầy và tiêu xương:
- Độ I: Tiêu xương từ 0 - 25% (thành công)
- Độ II: Tiêu xương từ 25 - 50% (thành công)
- Độ III: Tiêu xương từ 50 - 75% (thất bại)
- Độ IV: Tiêu xương từ 75 - 100% (thất bại)
- Witherow (2002): Thang điểm 8 mức độ (nhóm A đến F) khảo sát vị trí xương ghép so với huyệt ổ răng trong bộ răng hỗn hợp.
- Hynes (2003): Cải tiến hệ thống Oslo khảo sát quanh chóp răng và so sánh chiều cao xương mới với chiều cao mong muốn.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết là đánh giá có đối chứng về hiệu quả lâm sàng, mức độ tiêu xương và khả năng bảo tồn thể tích xương ghép khi ứng dụng huyết tương giàu yếu tố tăng trưởng (PRP) kết hợp xương mào chậu tự thân trên bệnh nhân Việt Nam có dị tật khe hở môi - vòm miệng toàn bộ một bên.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết về giải phẫu học, sinh lý lành thương mô ghép và hoạt tính sinh học của các yếu tố tăng trưởng:
-
Ba cơ chế tái tạo xương:
- Sự tạo xương (Osteogenesis): Quá trình hình thành và phát triển xương từ các tế bào có sẵn trong mô ghép tự thân.
- Biệt hóa tế bào sinh xương (Osteoinduction - Cảm ứng sinh xương): Quá trình chuyển hóa tế bào trung mô chưa biệt hóa thành nguyên bào xương hoặc nguyên bào sụn dưới tác động của các yếu tố tăng trưởng.
- Tạo xương có hướng dẫn (Osteoconduction - Dẫn truyền sinh xương): Quá trình cung cấp khung sinh học (scaffold) cho mạng mạch máu và tế bào xương mới phát triển lan vào từ mô xương xung quanh.
-
Sinh lý tạo xương 4 giai đoạn của mô ghép tự thân:
- Giai đoạn sớm: Hình thành cục máu đông, thâm nhiễm bạch cầu đa nhân và bạch cầu đơn nhân (biến đổi thành đại thực bào đạt đỉnh trong 24 giờ).
- Giai đoạn tăng sinh (ngày thứ 4): Hình thành mô sợi phần mềm quanh mảnh ghép, tế bào xơ tăng sinh, nhú mao mạch tân tạo xuất hiện.
- Giai đoạn lành thương (tuần thứ 2): Phản ứng viêm giảm, hình thành sẹo collagen đặc, đại thực bào và hủy cốt bào xâm nhập tiêu hóa mô hoại tử trong mảnh ghép, vi mạch bắt đầu xuyên vào các khoảng trống.
- Giai đoạn muộn (sau 2 tuần): Diễn ra nhanh ở xương xốp hơn xương vỏ; tân tạo mạch máu đưa tế bào trung mô vào biệt hóa thành tạo cốt bào, bồi đắp lá xương mới lên vách các hốc tủy cũ, dần thay thế toàn bộ lõi xương ghép hoại tử từ vài tháng đến một năm.
-
Cơ sở sinh học của huyết tương giàu yếu tố tăng trưởng (PRP):
PRP là chế phẩm máu tự thân chứa nồng độ tiểu cầu cao hơn nhiều lần so với máu toàn phần (Marx ghi nhận $785.000/\text{mm}^3$ so với $232.000/\text{mm}^3$; Roldan ghi nhận $2.768.900/\text{mm}^3$ so với $406.790/\text{mm}^3$).
Bảng phân loại các yếu tố sinh học của tiểu cầu theo Giuseppe Intini (2009) được luận án trích dẫn:
| Tên yếu tố |
Chức năng chung |
Hoạt động sinh học trong quá trình sinh trưởng |
| ADP / ATP |
Tương tác thụ thể tiểu cầu và thụ thể P2 của tế bào hủy xương/sinh xương |
Dẫn dắt các hormone và yếu tố tăng trưởng tham gia quá trình sinh xương; vận chuyển năng lượng |
| Angioprotein-2 (Ang-2) |
Hình thành mạch máu |
Tái tạo và hình thành mạch |
| Peptide III (CATP III) |
Tham gia phản ứng viêm |
Điều hòa phản ứng viêm giai đoạn sớm |
| EGF |
Tăng sinh, tăng trưởng và biệt hóa tế bào |
Tăng sinh tế bào sinh xương và hủy xương, kích thích tạo màng xương |
| Factor V, XI, XIII, Fibrinogen |
Quá trình đông máu |
Sửa chữa mô; Factor XIII tham gia vào lành thương xương |
| bFGF (FGF2) |
Hình thành mạch máu, tạo hình thái mạch |
Tăng sinh và biệt hóa tiền tế bào tạo xương; tái tạo mô quanh răng |
| Fibronectin |
Glycoprotein phân tử cao cấu thành màng, sợi |
Cần thiết cho sự phân chia và bám dính của tế bào tạo xương |
| IGF-1 |
Tăng sinh tế bào, ngăn tế bào chết theo chương trình |
Kích thích tế bào tạo xương tăng sinh và tổng hợp protein |
| Osteocalcin |
Điều chỉnh muối khoáng |
Tham gia tái tạo và khoáng hóa xương |
| P-Selectin / PDECGF |
Đông máu; enzym chuyển hóa cao phân tử |
Tế bào nội mạc; tham gia hình thành mạch máu |
| PDGF |
Tiết từ tiểu cầu và đại thực bào; phân chia tế bào gốc |
Sửa chữa xương bị thương, hình thành thành mạch |
| Serotonin |
Tu sửa các mô |
Tham gia quá trình lành thương mô mềm |
| TGF-$\beta 1$ |
Protein điều hòa tăng sinh và biệt hóa |
Kích thích nguyên bào sợi, tế bào gốc tủy xương và tiền nguyên bào tạo xương |
| Thrombospondin-1 |
Protein đa chức năng |
Tái tạo mạch và tham gia tái tạo xương |
| VEGF |
Protein tín hiệu kích thích tạo mạch |
Hình thành hệ thống vi mạch tân tạo nuôi dưỡng mảnh ghép |
| vWF |
Protein dạng keo |
Tham gia bám dính tiểu cầu và đông máu |
- Phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp lâm sàng có nhóm đối chứng.
- Địa điểm và thời gian: Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội và Bệnh viện Đại học Y Hà Nội từ tháng 9/2014 đến tháng 9/2019.
- Đối tượng: Bệnh nhân có khe hở môi - vòm miệng toàn bộ một bên có khuyết hổng cung hàm.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân có viêm nhiễm tại chỗ khe hở cung hàm; bệnh nhân không đủ điều kiện sức khỏe hoặc có bệnh toàn thân chống chỉ định phẫu thuật.
- Kỹ thuật chuẩn bị PRP: Lấy máu tĩnh mạch toàn phần của bệnh nhân, sử dụng bộ kit quay ly tâm chia tách nồng độ tiểu cầu, giải chống đông bằng dung dịch Calcium Chloride ($CaCl_2$) để tạo gel PRP giàu fibrin và yếu tố tăng trưởng.
- Kỹ thuật phẫu thuật: Rạch tạo vạt niêm mạc tiền đình và vòm miệng hai bên bờ khe hở, bóc tách và khâu đóng kín sàn mũi và niêm mạc màng xương phía vòm miệng. Lấy xương xốp mào chậu bản trong qua đường rạch da vùng mào chậu, trộn xương xốp với gel PRP rồi nhồi chặt vào ổ khuyết hổng cung hàm. Giảm căng vạt niêm mạc màng xương tiền đình và khâu đóng kín hoàn toàn ổ ghép.
- Công cụ và chỉ số thu thập số liệu: Đánh giá lâm sàng (lành thương 7 ngày, 3 tháng; đóng lỗ thông mũi miệng; tình trạng mọc răng nanh; biến chứng chảy máu và đau vùng mào chậu); đánh giá cận lâm sàng trên phim X quang (chiều dài mảnh ghép, tỷ lệ tiêu xương, phân loại Bergland và phân loại Kindelan tại các mốc 7 ngày, 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng sau phẫu thuật).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng thuật toàn diện giải phẫu học vòm miệng cứng, vòm miệng mềm, các cơ màn hầu (cơ khẩu cái màn hầu, cơ căng màn hầu, cơ nâng màn hầu, cơ lưỡi màn hầu, cơ hầu màn hầu), hệ thống cấp máu từ động mạch khẩu cái lớn và khẩu cái trước, cùng giải phẫu vi thể xương ổ răng. Tác giả phân tích các biến dạng thứ phát sau phẫu thuật tạo hình thì đầu KHM-VM gồm hẹp ngang cung hàm (MTD), cắn chéo răng sau, sai lệch tương quan xương loại III, dị dạng hoặc thiếu răng cửa bên (răng 2 thiếu từ 35-60%, lệch trục vào khe hở 87-90%), chậm mọc răng nanh và tồn tại lỗ thông mũi miệng (tỷ lệ 4-35%).
Chương 1 so sánh các nguồn vật liệu ghép xương tự thân dựa trên phân loại của Peterson (1992):
| Loại xương |
Đặc điểm sinh học |
Chỉ định lâm sàng |
| Xương mào chậu |
Nhiều xương xốp, khả năng tái tạo xương cao |
Phù hợp cho tất cả các loại khe hở, tỷ lệ thành công cao |
| Vỏ hộp sọ |
Là xương vỏ, ít xương xốp hơn |
Dùng trong khe hở một bên, tỷ lệ thành công thấp hơn |
| Xương hàm dưới |
Không có nhiều xương xốp |
Sử dụng cho trẻ lớn với khe hở hẹp |
| Xương sườn |
Xương xốp nghèo nàn |
Không nên sử dụng |
| Đầu trên xương chày |
Ít xương xốp |
Không nên sử dụng khi trẻ chưa hết tuổi lớn |
Bên cạnh đó, chương 1 phân tích các vật liệu xương đồng loại (FDBAs, DFDBAs, xương chiếu xạ), xương dị loại (Bio-Oss, Osteograf-N, Enbodon, san hô CDG), vật liệu gốm tổng hợp (HA, TCP, CPC, CS, Cortoss, PMMA) và các chế phẩm có yếu tố tăng trưởng (DBM, BMP). Về thời điểm can thiệp, tác giả tổng kết các quan điểm: giai đoạn sớm (4-7 tuổi trước khi mọc răng cửa bên) và giai đoạn tiêu chuẩn trong thời kỳ răng hỗn hợp (8-12 tuổi khi chân răng nanh hình thành được 1/4 đến 1/2) nhằm tối ưu hóa sự tích hợp xương và dẫn đường cho răng nanh mọc qua ổ ghép.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết tiêu chuẩn chọn mẫu, tiêu chuẩn loại trừ và thiết kế nghiên cứu can thiệp có đối chứng tại hai trung tâm phẫu thuật (BV Răng Hàm Mặt TW Hà Nội và BV Đại học Y Hà Nội) trong giai đoạn 2014-2019.
Quy trình kỹ thuật được chuẩn hóa thành các bước:
- Chiết tách PRP tự thân từ máu ngoại vi bằng máy ly tâm chuyên dụng và kích hoạt bằng Calcium Chloride.
- Bộc lộ và tạo vạt niêm mạc màng xương hai lớp (lớp sàn mũi - vòm miệng và lớp tiền đình) đảm bảo không căng và tưới máu tốt.
- Phẫu thuật lấy xương xốp mào chậu tự thân bản trong qua đường rạch da vùng chậu.
- Trộn xương xốp tự thân với PRP (ở nhóm can thiệp) hoặc ghép xương đơn thuần (ở nhóm đối chứng) vào toàn bộ thể tích khe hở cung hàm.
- Giảm căng vạt màng xương và khâu đóng kín bằng chỉ tiêu.
Hệ thống biến số nghiên cứu được phân định rõ ràng: các chỉ số lâm sàng trước mổ (kích thước khe hở, lỗ thông mũi miệng, tình trạng răng nanh và răng cửa bên, khớp cắn), các tiêu chí đánh giá lành thương sau mổ 7 ngày và 3 tháng, các chỉ số đo đạc chiều dài mảnh ghép trên phim X quang tại 7 ngày, 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, và phân bậc tiêu xương theo thang điểm Kindelan (Độ I đến IV).
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương kết quả thể hiện các số liệu định lượng thu thập được qua các bảng và biểu đồ:
- Đặc điểm trước mổ: Thống kê phân bố tuổi, giới tính, kích thước chiều cao - chiều rộng của khe hở cung hàm, tỷ lệ lỗ thông mũi miệng, tình trạng răng cửa bên ngầm/thiếu và răng nanh lệch lạc trước phẫu thuật ở hai nhóm.
- Kết quả lâm sàng sau mổ:
- Đánh giá lành thương tại chỗ sau 7 ngày: Tỷ lệ vạt liền thương tốt, niêm mạc hồng hào, không lộ xương ghép ở nhóm can thiệp có PRP đạt tỷ lệ cao.
- Tỷ lệ đóng kín lỗ thông mũi miệng sau phẫu thuật ghi nhận sự cải thiện rõ rệt tại các mốc theo dõi.
- Tiến trình mọc răng nanh: Răng nanh bên khe hở di chuyển và mọc thuận lợi xuyên qua khối xương ghép sau phẫu thuật.
- Kết quả X quang và mức độ tiêu xương:
- Đo đạc chiều dài mảnh ghép xương tức thì sau phẫu thuật, sau 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng ở cả nhóm can thiệp và nhóm đối chứng.
- So sánh tốc độ tiêu xương: Nhóm có sử dụng PRP duy trì chiều dài và thể tích mảnh ghép xương tốt hơn, tỷ lệ tiêu xương qua các mốc 3, 6, 12 tháng thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm đối chứng không sử dụng PRP.
- Phân loại kết quả theo Kindelan sau 12 tháng: Tỷ lệ bệnh nhân đạt kết quả thành công (Độ I và Độ II) ở nhóm can thiệp có PRP chiếm tỷ lệ vượt trội; phân tích mối liên quan giữa tỷ lệ tiêu xương với tình trạng chỉnh nha, nhóm tuổi và giới tính.
- Biến chứng: Thống kê tỷ lệ chảy máu sau phẫu thuật, các biến chứng tại chỗ vùng miệng sau 7 ngày, và biến chứng đau hoặc hạn chế vận động tại vùng lấy xương mào chậu sau 3 tháng.
Chương 4: Bàn luận
Tác giả bàn luận sâu về các khía cạnh chuyên môn:
- Ý nghĩa của các đặc điểm giải phẫu học khe hở cung hàm, sự liên quan giữa dị tật răng nanh/răng cửa bên với sự thành bại của ổ ghép.
- Đánh giá vai trò của kỹ thuật tạo vạt phần mềm, sự cần thiết của việc đóng kín sàn mũi và vòm miệng trước khi nhồi xương nhằm tránh nhiễm trùng từ khoang miệng hoặc hốc mũi.
- Phân tích cơ chế tác động của PRP: Các yếu tố tăng trưởng PDGF, TGF-$\beta 1$, VEGF và bFGF được phóng thích tại chỗ đã kích thích mạnh mẽ quá trình tạo mạch tân tạo trong tuần đầu tiên, bảo vệ các tế bào tạo xương trong lõi xương xốp mào chậu khỏi tình trạng hoại tử do thiếu máu cục bộ, từ đó làm giảm tốc độ tiêu xương ghép ở các mốc 3, 6 và 12 tháng.
- Bàn luận về mức độ an toàn và hồi phục tại vùng lấy xương mào chậu, thời điểm can thiệp tối ưu trong giai đoạn răng hỗn hợp nhằm phối hợp nắn chỉnh răng và tạo đường mọc cho răng nanh.
Kết quả và những đóng góp mới
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
-
Hạn chế:
- Luận án tập trung trên đối tượng bệnh nhân có khe hở môi và vòm miệng toàn bộ một bên, chưa mở rộng đánh giá chuyên sâu trên các thể lâm sàng khe hở hai bên phức tạp.
- Thời gian theo dõi đánh giá kết quả cận lâm sàng cố định tại mốc 12 tháng sau phẫu thuật, chưa theo dõi kéo dài đến khi toàn bộ răng nanh mọc hoàn chỉnh vào cung răng và hoàn tất điều trị phục hình/implant ở tuổi trưởng thành.
-
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng nghiên cứu ứng dụng PRP trên các bệnh nhân có dị tật khe hở cung hàm hai bên với mức độ thiếu hổng xương lớn.
- Tiếp tục theo dõi dọc dài hạn (trên 3-5 năm) nhằm đánh giá mức độ ổn định của mào xương ổ răng sau khi kết thúc nắn chỉnh răng toàn diện hoặc cấy ghép implant nha khoa.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên sau đại học và giảng viên chuyên ngành Răng Hàm Mặt: Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị về cơ sở sinh học tái tạo xương, cơ chế hoạt sinh của tiểu cầu và các phương pháp đánh giá tiêu xương chuẩn hóa trên X quang (hệ thống Oslo, thang điểm Kindelan, Long Jr).
- Đối với phẫu thuật viên Hàm Mặt và Tạo hình: Cung cấp hướng dẫn chi tiết về kỹ thuật thiết kế vạt niêm mạc màng xương giảm căng, kỹ thuật chiết tách và hoạt hóa PRP tự thân bằng $CaCl_2$, cũng như kỹ thuật lấy và ghép xương xốp mào chậu.
- Đối với bác sĩ Chỉnh nha: Cung cấp dữ liệu về mối tương quan giữa thời điểm ghép xương và khả năng mọc tự nhiên của mầm răng nanh ngầm qua ổ ghép.
Câu hỏi thường gặp
1. Huyết tương giàu yếu tố tăng trưởng (PRP) đóng vai trò sinh học cụ thể nào trong phẫu thuật ghép xương ổ răng?
PRP cung cấp nồng độ tiểu cầu đậm đặc giải phóng các yếu tố tăng trưởng quan trọng như PDGF, TGF-$\beta 1$, VEGF, bFGF và IGF-1. Các chất này kích thích phản ứng viêm lành mạnh, thúc đẩy sự hình thành mạng lưới vi mạch tân tạo xâm nhập vào mảnh ghép trong 2 tuần đầu, nuôi dưỡng các tế bào tạo cốt bào và tế bào trung mô, từ đó đẩy nhanh quá trình sinh xương mới và giảm thiểu hiện tượng tiêu xương xốp tự thân.
2. Thang điểm Kindelan (1997) được tác giả sử dụng đánh giá kết quả tiêu xương sau phẫu thuật như thế nào?
Thang điểm Kindelan chia mức độ tiêu xương dựa trên tỷ lệ phần trăm thể tích xương khuyết hổng được lấp đầy sau 12 tháng: Độ I (tiêu xương 0-25%) và Độ II (tiêu xương 25-50%) được xếp vào nhóm phẫu thuật thành công; Độ III (tiêu xương 50-75%) và Độ IV (tiêu xương 75-100%, không hình thành cầu xương) được xếp vào nhóm thất bại.
3. Tại sao xương mào chậu tự thân được chọn làm tiêu chuẩn vàng trong điều trị khe hở cung hàm?
Theo phân loại của Peterson và tổng quan của luận án, xương mào chậu cung cấp khối lượng xương xốp lớn, giàu tế bào tạo xương và tế bào trung mô chưa biệt hóa, có khả năng kích hoạt đồng thời cả ba cơ chế: tạo xương, cảm ứng sinh xương và dẫn truyền sinh xương, đảm bảo tỷ lệ thành công cao hơn so với xương sọ, xương hàm dưới, xương sườn hay xương chày.
4. Thời điểm nào được luận án xác định là tối ưu cho việc phẫu thuật ghép xương khe hở cung hàm?
Thời điểm tối ưu được ủng hộ nhiều nhất là giai đoạn răng hỗn hợp khi trẻ từ 8 đến 12 tuổi, trước thời điểm mọc răng nanh vĩnh viễn (khi chân răng nanh hình thành được khoảng 1/4 đến 1/2 chiều dài). Can thiệp ở giai đoạn này vừa tận dụng được tiềm năng phát triển xương ổ răng theo chiều đứng, vừa tạo cầu xương nâng đỡ cho răng nanh tự mọc qua vị trí khe hở.
5. Các yếu tố sinh học nào trong tiểu cầu tham gia trực tiếp vào quá trình hình thành mạch máu nuôi mảnh ghép?
Theo bảng phân loại của Giuseppe Intini (2009) được trích dẫn trong luận án, các yếu tố chính tham gia hình thành và tái tạo mạch máu bao gồm VEGF (yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu), bFGF/FGF2 (yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi cơ bản), Angioprotein-2 (Ang-2), PDGF và PDECGF (Thymidine phosphorylase).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Tạ Anh Tuấn đã thực hiện nghiên cứu có hệ thống và đối chứng về việc ứng dụng huyết tương giàu yếu tố tăng trưởng (PRP) kết hợp xương mào chậu tự thân trong điều trị khe hở cung hàm ở bệnh nhân dị tật khe hở môi - vòm miệng toàn bộ một bên. Kết quả nghiên cứu chứng minh việc bổ sung PRP tự thân giúp cải thiện lành thương mô mềm, hỗ trợ đóng kín lỗ thông mũi miệng và giảm tỷ lệ tiêu xương ghép sau 12 tháng theo dõi. Công trình đóng góp quy trình phẫu thuật chuẩn hóa, có giá trị ứng dụng thực tiễn cao trong chuyên ngành Phẫu thuật Hàm Mặt và Răng Hàm Mặt tại Việt Nam.