Chương 1. Tổng quan về nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm về vấn đề nghiên cứu Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu Chương 5. Kết luận Ngoài ra, để cung cấp các minh chứng nhằm củng cố nội dung phân tích đề tài còn bao gồm các phụ lục liên quan và danh mục tài liệu tham khảo được trình bày theo quy định APA. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về vỡ nợ Theo Schuermann (2004), đưa ra ý kiến rằng không có một khái niệm tiêu chuẩn nào về “vỡ nợ”, những khái niệm vỡ nợ khác nhau sử dụng cho các mục đích khác nhau.
Trong bài nghiên cứu của mình, ông đã đưa ra một khái niệm cơ bản về vỡ nợ là việc khách hàng không trả được nợ, bao gồm cả tiền gốc và tiền lãi trên các khoản vay có tài sản đảm bảo hoặc khoản vay không có tài sản đảm bảo. Khi khách hàng xảy ra vỡ nợ sẽ dẫn đến thu nhập của ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác giảm đi. Thông thường, khả năng vỡ nợ xảy ra khi khách hàng có một trong các dấu hiệu sau đây: (i) Khoản vay của khách hàng đã được cơ cấu nợ; (ii) Khoản vay của khách hàng phát sinh dự phòng nợ phải thu khó đòi; (iii) Khoản vay của khách hàng đã quá hạn trên 90 ngày; (iv) Khách hàng vay nợ đã tuyên bố phá sản. Hiệp định Basel II cũng định nghĩa rằng: việc vỡ nợ được coi là xảy ra khi có một trong các sự kiện sau đây: (i) Người có nghĩa vụ trả nợ không có khả năng thanh toán đầy đủ các nghĩa vụ trả nợ của mình (gốc, lãi hoặc phí); (ii) Khoản nợ của người có nghĩa vụ trả nợ đã được điều chỉnh cụ thể như lập khoản dự phòng hoặc cơ cấu lại khoản vay liên quan đến việc xoá hoặc giãn nợ gốc, lãi hoặc phí; (iii) Người có nghĩa vụ trả nợ đã quá hạn thanh toán trên 90 ngày; (iv) Người có nghĩa vụ trả nợ đã nộp đơn phá sản.
Mặt khác, Sy (2007) cũng đưa ra khái niệm: vỡ nợ dựa trên cơ sở khách hàng bị trễ hạn và mất khả năng thanh toán. Trễ hạn được hiểu là việc khách hàng không thanh toán được khoản vay khi đến hạn, trong khi tình trạng mất khả năng thanh toán được định nghĩa là tài sản của khách hàng vay nợ có giá trị ít hơn các khoản nợ phải trả của họ. Hầu hết các khái niệm vỡ nợ được xoay quanh khái niệm trễ hạn. Theo Altman và cộng sự (2019) cho ý kiến rằng, khái niệm vỡ nợ đề cập đến việc khách hàng vay nợ vi phạm một trong các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng với ngân hàng, ngoài khoản thanh toán theo thời hạn quy định của khoản vay.
Ví dụ, khách hàng vi phạm một thỏa thuận như không duy trì số tiền thanh toán tối thiểu hoặc tỷ lệ nợ tối đa được quy định. Vỡ nợ có thể xảy ra khi khách hàng trễ thời gian thanh toán lãi và gốc bắt buộc. Thông thường, khách hàng xảy ra vỡ nợ khi họ cơ cấu lại các khoản thanh toán nợ hoặc nộp đơn chính thức phá sản. 10 Nói chung, vỡ nợ có thể xảy ra khi khách hàng không thể trả được số tiền gốc, lãi hoặc phí của khoản vay.
Dấu hiệu của một khoản vay có khả năng vỡ nợ khi đáp ứng một trong các điều sau đây như: (i) Khoản vay đã được ngân hàng cơ cấu nợ; (ii) Khoản vay của khách hàng xuất hiện khoản dự phòng phải thu khó đòi; (iii) Khách hàng trễ hạn trả nợ quá 90 ngày; (iv) Khách hàng vay nợ nộp đơn phá sản. Khi vỡ nợ xảy ra sẽ kéo theo những ảnh hưởng nặng nề đến ngân hàng và kể cả chính bản thân khách hàng là chủ của khoản vay bị vỡ nợ ấy. Ảnh hưởng của vỡ nợ với ngân hàng Theo Karim và cộng sự (2010), tỷ lệ vỡ nợ của khách hàng cá nhân càng cao sẽ ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng trong kinh doanh của các ngân hàng, đây là nguyên nhân chính khiến cho ngân hàng chậm phát triển. Nhóm tác giả cũng đưa ra lập luận rằng: hậu quả của việc khi ngân hàng có tỷ lệ vỡ nợ của khách hàng cá nhân càng cao, họ sẽ không thể phục vụ các khách hàng cá nhân hay doanh nghiệp tiềm năng khác do số tiền cho vay trước chưa thể thu hồi.
Cũng theo Karim và cộng sự (2010) một tác động khác của các khoản vỡ nợ ảnh hưởng đến ngân hàng chính là khả năng cho vay của ngân hàng bị sụt giảm. Các ngân hàng tạo ra phần lớn doanh thu và lợi nhuận từ hoạt động cho vay. Khi phần lớn vốn cho vay của các ngân hàng mất đi do khách hàng vỡ nợ, có khả năng làm cho doanh thu của chính ngân hàng cũng bị mất đi. Khi doanh thu của ngân hàng bị mất đi trong một năm, sẽ làm giảm đi khả năng cấp tín dụng của họ trong năm tiếp theo.
Điều này có nghĩa là ngân hàng sẽ không thể cho vay hoặc phải giảm số tiền cho vay được phân bổ trong năm các năm tiếp theo. Theo Bloem & Gorter (2001), khả năng vỡ nợ tác động nghiêm trọng đối với các tổ chức tín dụng như ngân hàng hay các tổ chức tài trợ thế chấp có danh mục cho vay lớn. Một khi các khoản vay lớn bị vỡ nợ sẽ ảnh hưởng đến khả năng cấp tín dụng của ngân hàng. Với các khoản vay nhỏ nếu bị vỡ nợ là làm giảm niềm tin của ngân hàng vào khách hàng đó.
Nếu ngân hàng có quá nhiều khoản vay bị vỡ nợ, họ sẽ làm mất niềm tin của những khách hàng ký gửi vào khả năng quản lý rủi ro của ngân hàng, điều này có thể dẫn đến tình trạng khách hàng hoặc nhà đầu tư rút tiền gửi hoặc tiền đầu tư đồng loạt, gây ảnh hưởng đến vấn đề thanh khoản của ngân hàng. Khi một hệ thống quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng không được xây dựng tốt, sẽ xuất hiện rất nhiều vấn đề và hậu quả tiêu cực. Bằng chứng xác thực của một ngân hàng có hệ thống quản lý rủi ro hiệu quả và được quản lý tốt thể hiện thông qua doanh thu của họ. Ngân hàng phải luôn chắc chắn về khả năng trả nợ của người vay trước khi cấp bất kỳ khoản vay nào.
11 Các ngân hàng hoạt động yếu kém thường có tỷ lệ vỡ nợ rất lớn trước khi họ bị các ngân hàng khác mua lại (Berger & Humphrey, 1997). Theo Fofack (2005) cho rằng, khi ngân hàng có giá trị các khoản vay bị vỡ nợ quá lớn có thể dẫn đến phá sản nếu như họ không có khả năng thu hồi nợ xấu của khách hàng. Việc các khoản vỡ nợ của khách hàng khi được cho vay có ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận các ngân hàng, làm ảnh hưởng đến mức chi trả cổ tức cho các cổ đông. Từ đó, việc huy động vốn của ngân hàng có thể ảnh hưởng vì các nhà đầu tư sẽ không đầu tư vào các ngân hàng nằm trong danh mục nợ xấu lớn (Jaquette & Hillman 2015).
Các yếu tố có thể dẫn đến khả năng vỡ nợ của khoản vay 2. Yếu tố thông tin pháp lý của khách hàng Khi một khách hàng cá nhân đề nghị được vay vốn ngân hàng, trước tiên khách hàng bắt buộc phải cung cấp cho ngân hàng các thông tin về pháp lý của họ. Việc cung cấp thông tin này giúp ngân hàng có cái nhìn tổng quan nhất về khách hàng cá nhân. Ngân hàng sẽ xem xét mức độ tin cậy trong việc khách hàng cung cấp thông tin và trên cơ sở dữ liệu có sẵn (nếu có), từ đó ngân hàng đưa ra quyết định về việc có nên cho vay hay không.
Các thông tin cơ bản về pháp lý của khách hàng cá nhân được yêu cầu như: Thông tin cá nhân, độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân,… Yếu tố có ảnh hưởng quan trọng nhất đến khả năng vỡ nợ của khách hàng chính là thông tin cá nhân của họ. Tuy nhiên, thông tin cá nhân của các khách hàng là khác nhau. Do đó, khi tiến hành xếp hạng tín dụng của khách hàng cá nhân, các ngân hàng sẽ xem xét chủ yếu đến các thông tin về bản thân khách hàng, về điều kiện sống cũng như thu nhập của khách hàng đó. Một yếu tố khác cũng xác định khả năng vỡ nợ của khách hàng là độ tuổi.
Độ tuổi của khách hàng càng lớn chỉ ra kinh nghiệm làm việc của khách hàng càng nhiều (Ojiako & Ogbukwa, 2012). Việc tích lũy kinh nghiệm trong công việc sẽ giúp khách hàng có cách nhìn nhận đầu tư kinh doanh tốt hơn. Bên cạnh đó, khi khách hàng tích luỹ kinh nghiệm làm việc càng nhiều sẽ giúp khả năng đối phó với các rủi ro có thể xảy ra trong kinh doanh trở lên tốt hơn dẫn đến khả năng vỡ nợ của khách hàng sẽ giảm đi (Abid và cộng sự, 2018). Yếu tố giới tính cũng được các nhà nghiên cứu đánh giá là có ảnh hưởng tới khả năng vỡ nợ.
Theo Carter (2007), thời gian làm việc của nam và nữ là khác nhau. Nếu nữ giới là người đi vay thì khả năng trả nợ thấp hơn vì họ thường phải gánh vác thêm các công việc gia đình nên sẽ có ít thời gian cho công việc tăng thu nhập. Một số trường hợp, nữ giới đứng tên các khoản vay 12 nhưng việc sử dụng các khoản vay này lại là người khác. Điều này dẫn đến việc đánh giá dựa trên giới tính người vay cần được xem xét thêm trong việc sử dụng đúng mục đích của khách hàng cá nhân.
Tình trạng hôn nhân cũng được coi là yếu tố để dự báo khả năng vỡ nợ. Nếu khách hàng đã lập gia đình sẽ có xu hướng tập trung vào công việc hơn so với những khách hàng độc thân (Moffatt, 2005). Do đó, yếu tố tình trạng hôn nhân của khách hàng cũng được xem xét thuộc về nhân khẩu học ảnh hưởng tới khả năng vỡ nợ của khách hàng cá nhân (Kocenda & Vojtek, 2011). Yếu tố hoàn cảnh sống của khách hàng Những yếu tố này phản ánh cuộc sống của mỗi cá nhân và mối tương tác của họ với môi trường sống xung quanh mình.
Thông qua việc tìm hiểu này giúp ngân hàng có thể đánh giá được mức độ ảnh hưởng yếu tố hoàn cảnh sống của khách hàng cá nhân đến khả năng tài chính của họ.