Đặt vấn đề nghiên cứu Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) là trung tâm kinh tế của Viêt nam có diện tích 2095km2 chiếm 0.6% diện tích cả nƣớc nhƣng lại có dân số tập trung đông, chiếm 7. Tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hóa nhanh nhƣng cơ sở hạ tầng chƣa kịp quy hoạch tổng thể, ý thức ngƣời dân còn kém trong nhận thức bảo vệ môi trƣờng, vì vậy Tp.HCM đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm môi trƣờng trầm trọng nhƣ không khí, nƣớc. Vấn đề nổi trội hơn cả là thành phố phải đảm bảo đƣợc nguồn nƣớc sạch cung cấp cho hoạt động sống cơ bản của dân cƣ và phục vụ cho phát triển kinh tế. Ngày nay việc phát triển của các khu cụm công nghiệp dẫn đến nguy cơ nƣớc thải trực tiếp vào nguồn trong khi chƣa có các giải pháp kiểm soát hiệu quả diễn ra thƣờng xuyên.
Do đó tài nguyên nƣớc đang có xu thế suy thoái và tiếp tục chịu tác động của các hoạt động sản xuất, khai thác nƣớc chƣa có quy hoach. Nƣớc mặt và nƣớc dƣới đất (NDĐ) hiện là 02 nguồn nƣớc chính cho thành phố. Lƣợng nƣớc bình quân đầu ngƣời giảm khi dân số tăng dẫn đến việc khai thác ồ ạt, mất kiểm soát nguồng NDĐ, hiện nay tổng lƣợng nƣớc thành phố khai thác 1.000 m3/ngày, trong đó NDĐ chiếm 40%. Đối diện với nguy cơ thiếu nƣớc, đặc biệt là nguồn nƣớc ngọt sạch do đó con ngƣời cần có những biện pháp sử dụng và khai thác nguồn tài nguyên này một cách hiệu quả.
Ứng dụng GIS và Viễn thám trong công tác quản lý nƣớc dƣới đất là công cụ thực thi các công tác kiểm tra, giám sát việc khai thác nƣớc dƣới đất và những hệ quả khi khai thác quá mức. GIS và Viễn thám sẽ thống kê đƣợc các giếng khoan tồn tại trong khu vực, lập bản đồ mực nƣớc, từ đó sẽ có những kiến nghị cho các công trình khác liên quan đến khai thác nƣớc dƣới đất nhằm phục vụ cho nhu cầu sử dụng nguồn nƣớc này đƣợc đảm bảo.2 Tính cấp thiết của đề tài Nƣớc dƣới đất là một tài nguyên quý giá mà con ngƣời sử dụng cho các mục đích khác nhau. Nên việc khai thác, sử dụng hợp lý cũng phải đƣợc tiến hành nhƣ khai thác các loại tài nguyên có ích khác nhƣ tài nguyên khoáng sản, tài nguyên dầu khí…. Nguồn nƣớc chính cung cấp cho Tp.HCM chủ yếu từ hai nguồn: nƣớc mặt (sông Đồng Nai, Sài Gòn), nƣớc dƣới đất.
Nƣớc dƣới đất là một thành phần của tài nguyên nƣớc có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con ngƣời, nƣớc dƣới đất có liên quan chặt chẽ với các yếu tố khác của môi trƣờng xung quanh nên rất cần có giải pháp quản lý và bảo vệ phục vụ quản lý khai thác nƣớc dƣới đất bền vững trên địa bàn Tp. Tuy nhiên, Tp.HCM đã không ngừng phát triển, dẫn đến sự gia tăng nhanh dân số và các hoạt động phát triển công nghiệp,… đã gây ra sự khai thác quá mức nƣớc dƣới đất. Công tác quan trắc nƣớc dƣới đất tại các tầng chứa nƣớc Pliocen trên và dƣới đã cho thấy: - Mực nƣớc có xu hƣớng tiếp tục giảm (trung bình 2m/năm). - Độ cao mực nƣớc đã ở độ sâu -34.5m tại Quận 12 và -26.85m tại Bình Chánh, cũng nhƣ -19.
- Sự khai thác nƣớc dƣới đất quá mức đã làm biến dạng bề mặt đất ảnh hƣởng nghiêm trọng đến các công trình dân dụng và công nghiệp cũng nhƣ xâm nhập mặn ảnh hƣởng đến môi trƣờng sống của ngƣời dân. Hiện nay, nguồn nƣớc chính cung cấp cho nền công nghiệp phát triển mạnh và đô thị hóa nhanh của Tp.HCM chủ yếu từ hai nguồn: nƣớc mặt (sông Đồng Nai, Sài Gòn) và nƣớc dƣới đất từ các giếng khoan. Nhu cầu nƣớc dƣới đất đang gia tăng, trong khi trữ lƣợng nguồn tài nguyên nƣớc có hạn và quy mô phân bố ngày càng thu hẹp do ô nhiễm. Vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên nƣớc dƣới đất, mà cụ thể là xác định và bảo vệ nƣớc dƣới đất bao gồm các hoạt động nhƣ: phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu tới số lƣợng, chất lƣợng, giữ cho nguồn nƣớc dƣới đất không bị suy thoái, ô nhiễm, cạn 9 kiệt,.Tìm giải pháp phục hồi, cải thiện nguồn nƣớc dƣới đất tránh bị ô nhiễm, cũng nhƣ khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm nguồn nƣớc dƣới đất,.
đã và đang giữ một vị trí quan trọng trong công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên nƣớc bền vững, luôn là vấn đề cấp bách cho Tp. Đòi hỏi phải có công tác quản lý thích hợp, chặt chẽ các giếng khai thác tại các đơn vị, giám sát theo dõi tình trạng nhiễm mặn thông qua các giếng quan trắc từ thực tiễn. Thành phố còn chỉ đạo các ngành chức năng có liên quan kết hợp để quản lý việc khai thác và sử dụng nguồn nƣớc bền vững. Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của vần đề này, đề tài “Ứng dụng GIS và Viễn thám trong quản lý nƣớc dƣới đất khu vực Thành phố Hồ Chí Minh” đƣợc chọn để xây một cơ sở dữ liệu quản lý chặt chẽ, sử dụng hình ảnh viễn thám để thu thập dữ liệu, giám sát biến dạng mặt đất do khai thác nƣớc, từ đó đƣa ra các giải pháp phù hợp phân vùng và đƣa ra quyết định kịp thời nhằm hạn chế khai thác và sử dụng nguồn nƣớc hợp lý.3 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nƣớc Trên thế giới đã sử dụng GIS và Viễn thám vào các hệ thống quản lý nguồn nƣớc dƣới đất và đã trở nên khá phổ biến hiện nay.
Các cơ quan chính phủ đã áp dụng GIS và Viễn thám vào hệ thống quản lý môi trƣờng để có những đánh giá tác động môi trƣờng từ hoạt động quy hoạch đất, công nghiệp hóa, đô thị hóa, khai thác các nguồn tài nguyên trên thế giới. Tích hợp công nghệ GIS và Viễn thám cho phép cung cấp thông tin quan trọng và hỗ trợ đƣa ra những quyết định một cách nhanh chóng. Các lĩnh vực sử dụng GIS và Viễn thám trong quản lý nguồn nƣớc dƣới đất điển hình nhƣ: - “Gis and urban hydrology” - Errin Kemper, E.E Lập ra bản đồ chỉ nguy cơ ngập lụt dựa trên thủy hệ đến khu thoát nƣớc. Bản đồ này sử dụng công cụ hữu ích hỗ trợ cho việc xác định khu vực ngập và xác lập khu vực phòng hộ cho tƣơng lai.
Dữ liệu đƣợc thu thập bao gồm các thông tin về đất, dữ liệu địa hình, mục đích sử dụng đất hiện tại và tƣơng lai. 10 - “Groundwater management and development by integrated remote sensing and geographic information systems: prospects and constraints” - Madan K. Jha & Alivia Chowdhury & V. Chowdary & Stefan Peiffer, 2006 Sử dụng công nghệ Viễn thám và GIS để đƣa ra một đánh giá toàn diện về hệ thống dòng nƣớc dƣới đất.
Có 06 lĩnh vực chủ yếu của GIS và viễn thám đƣợc áp dụng vào quản lý nƣớc dƣới đất: Thăm dò và đánh giá tài nguyên nƣớc; Chọn lọc các nguồn bổ cập nhân tạo; GIS dựa trên mô hình hóa dòng chảy và ô nhiễm; Đánh giá nguy cơ ô nhiễm và kế hoạch bảo vệ nguồn nƣớc dƣới đất; Khả năng tự phục hồi; Phân tích hệ thống dữ liệu. - “Ƣớc tính bổ cấp nƣớc dƣới đất khu vực bằng việc sử dụng dữ liệu thủy văn, ứng dụng cho lƣu vực Hemet ở phía tây Riverside County, California”,2009. Kết hợp các dữ liệu về nƣớc với điều kiện tự nhiên, đặc tính của tầng chứa nƣớc, mực nƣớc và trữ lƣợng nƣớc để ƣớc lƣợng tính bổ cập trong khu vực California. Việt Nam những năm gần đây cũng đã áp dụng GIS vào quản lý đã cho ra nhiều kết quả khả quan khi đƣa vào thực tiễn ở nƣớc ta nhƣ cảnh báo nguy cơ biến dạng, sụt lún mặt đất từ khai thác nƣớc dƣới đất, ngập triều, quản lý lƣu vực nguồn thủy điện, ngập lụt,… - Nguyễn Văn Ngà (2002), Hiện trạng khai thác sử dụng và đề xuất phƣơng án quản lý hợp lý nguồn tài nguyên NDĐ TP.
Luận văn cao học lƣu trữ tại Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. - Mai Trần Hoàng Anh (2011), Ứng dụng công nghệ GIS hỗ trợ công tác quản lý ngập triều khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn cao học đã xây dựng một cơ sở dữ liệu GIS liên quan để đề xuất các phƣơng pháp thoát nƣớc ở vùng ngập triều khu vực đô thị hóa. - Nguyễn Hoàng Mỹ Lan (2006), Nghiên cứu ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong quản lý hệ thống thoát nƣớc tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An 11 Giang.
Luận văn cao học đã ứng dụng GIS trong quản lý hệ thống thoát nƣớc, biên tập và xây dựng chƣơng trình quản lý hệ thống thoát nƣớc SEWSMPro dựa trên phần mềm ArcViewGIS và ngôn ngữ lập trình Avenue. - Trần Văn Lã (1998) dự báo Lún mặt đất khi khai thác 02 tầng chứa nƣớc Pliocen trên và dƣới với lƣu lƣợng 28. - Dƣơng Thị Kiều Anh (1999) dự báo lún cho Nhà máy nƣớc Gò Vấp với lƣu lƣợng 30.000 m3/ngày từ tầng chứa nƣớc Pliocen trên. - Đỗ Tiến Hùng (2001) dự báo lún mặt đất do khai thác nƣớc tại Tân Chánh Hiệp, Quận 12.
- Lê Văn Trung và Hồ Tống Minh Định (2008) đã ứng dụng kỹ thuật INSAR vi phân để nghiên cứu sự biến dạng mặt đất khu vực thành phố Hồ Chí Minh. - Lê Văn Trung (2008), Lún mặt đất, nƣớc dƣới đất và phát triển đô thị Thành phố Hồ Chí Minh. Đã thể hiện sự tƣơng quan giữa lún mặt đất và các khu vực khai thác nƣớc dƣới đất bằng công nghệ GIS và Viễn thám. Nhìn chung, bảo vệ tài nguyên nƣớc dƣới đất là một nhu cầu vô cùng cấp thiết và thực tiễn.
Việc tạo giải pháp cung cấp nhanh thông tin hữu ích trên một khu vực mặt đất rộng lớn liên quan đến các vấn đề nhƣ: hiện trạng khai thác ứng với các tầng chứa nƣớc, trữ lƣợng khai thác hiện tại của các tầng khai thác chủ yếu, dự báo đƣợc sự biến dạng mặt đất do khai thác nƣớc quá mức so với khả năng của nguồn nƣớc,. Đây là các mối quan hệ phức tạp để quy hoạch sử dụng nƣớc ngầm hay tạo phƣơng án, lộ trình giảm lƣu lƣợng, số lƣợng công trình khai thác nƣớc dƣới đất hiện có, nhằm phục vụ quản lý khai thác nƣớc dƣới đất bền vững trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.4 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Đánh giá hiện trạng khai thác nƣớc dƣới đất và lập bản đồ thể hiện các công trình khai thác. Từ đó, đề xuất giải pháp bảo vệ tài nguyên nƣớc dƣới đất phục vụ quản lý và khai thác NDĐ bền vững trên địa bàn Tp.