Chương 1. Cơ sở lý luận của việc ứng dụng CNTT trong hệ thống các CQ hành chính nhà nước. Một số ứng dụng như phần mềm “Một cửa”, dịch vụ hành chính công mức độ 3 đã được triển khai, tuy nhiên chưa đáp ứng yêu cầu do số lượng đơn vị triển khai còn ít, hơn nữa việc khai thác, sử dụng gặp nhiều khó khăn nên chưa phục vụ được nhu cầu của người dân, doanh nghiệp. Việc triển khai dịch vụ công mức độ 3, 4 còn gặp nhiều khó khăn do chưa triển khai được hệ thống xác thực điện tử để xác nhận tính chính xác của hồ sơ điện tử và khó khăn trong việc thực hiện thanh toán qua mạng đối với người dân, doanh nghiệp.
Đối với tỉnh Lạng Sơn, lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2016 - 2020, cụ thể như sau: Cung cấp các dịch vụ công trực tuyến đạt mức độ 3, 4 theo Quyết định 1819/QĐ- TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ; Công văn số 2779/VPCP- KGVX ngày 22/4/2016 của Văn phòng Chính phủ; Quyết định số 846/QĐ-TTg ngày 09/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Cổng thông tin điện tử của tỉnh và các Trang thông tin điện tử thành viên cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết phục vụ người dân và doanh nghiệp, đảm bảo thực hiện cơ chế tương tác 2 chiều. Xây dựng các cơ sở dữ liệu, hệ thống ứng dụng CNTT trong cải cách hành chính, quản lý giáo dục, giảng dạy trong các cấp học, hệ thống thông tin hỗ trợ khám và điều trị trong các bệnh viện. Ứng dụng CNTT đảm bảo an toàn, an ninh mạng - Xây dựng Quy hoạch phát triển Công nghệ thông tin của địa phương; các chính sách, giải pháp đảm bảo an toàn thông tin theo quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và hướng dẫn của Trung ương.
- Thành lập đội ứng cứu, xử lý sự cố mạng, máy tính của tỉnh, phối hợp với Trung tâm ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam (VNCERT) để hỗ trợ ứng cứu khẩn cấp sự cố trong phạm vi và trách nhiệm của địa phương. - Đầu tư các trang thiết bị, phần mềm tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và bảo mật hệ thống cơ sở dữ liệu cho các đơn vị tham gia mạng chuyên dùng của địa phương. - Đảm bảo 100% máy tính trong các cơ quan quản lý nhà nước được cài phần mềm chống virus và phần mềm độc hại. - Rà soát và áp dụng quy trình nghiệp vụ, quy trình sao lưu, dự phòng dữ liệu, đảm bảo an toàn dữ liệu theo Quy chế đảm bảo an toàn, an ninh thông tin của tỉnh và các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành.
Các yếu tổ ảnh hƣởng đấn ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan hành chính nhà nƣớc Luận văn tốt nghiệp Trang|14 Chương 1. Cơ sở lý luận của việc ứng dụng CNTT trong hệ thống các CQ hành chính nhà nước. Quá trình ứng dụng CNTT có hiệu quả hay không, tốc độ phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố; chúng ta có thể nói đến một số yếu tố cơ bản sau: 1. Yếu tố khách quan Môi trường tự nhiên Phần lớn các thiết bị trong ngành CNTT đều là các thiết bị điện tử; chúng rất dễ bị tác động của môi trường địa lý, khí hậu.
Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng lớn đến hoạt động của thiết bị phải nói đến như là nhiệt độ, độ ẩm, sấm sét…các yếu tố về địa lý có ảnh hưởng nhiều như vùng bị nhiễm xạ, vùng ven biển, vùng có nhiều cát bụi, gần nơi có nhiều thiết bị, phương tiện giao thông hoạt động như gần đường quốc lộ… Nước ta là một nước ven biển, có đường bờ biển dài, khí hậu hai miền cũng khác nhau; trên thực tế nhiều nơi đã không coi trọng những yếu tố ảnh hưởng của môi trường nên đã thường xuyên gặp tình trạng thiết bị hỏng, chi phí sửa chữa cao; do đó luôn phải tính toán đến các điều kiện môi trường trong ứng dụng CNTT. Vị trí địa lý, sự phân bổ địa hình đa dạng giữa các vùng miền làm ảnh hưởng đến việc quản lý, sử dụng, bố trí điều kiện triển khai ứng dụng CNTT, tạo nên những điểm khác biệt riêng cho mỗi dự án CNTT tại mỗi địa phương. Môi trường xã hội Yếu tố văn hóa, truyền thống, mật độ phân bổ dân cư, sự chênh lệch phát triển giữa các vùng miền cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc ứng dụng CNTT. Những yếu tố xã hội sẽ chia cộng đồng thành các nhóm khách hàng, mỗi nhóm có những đặc điểm, tâm lý, thu nhập.
Những yếu tố đó sẽ dẫn đến các nhu cầu sử dụng dịch vụ, hàng hóa khác nhau; tác động trực tiếp đến thái độ người lao động trong việc tiếp thu và phát triển các thành tựu khoa học kỹ thuật, đặc biệt là CNTT. Dễ dàng nhận thấy CNTT được phát triển và ứng dụng rộng rãi tại các thành phố lớn nơi tập trung dân số đông và điều kiện kinh tế phát triển. Còn tại vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo việc ứng dụng CNTT còn nhiều hạn chế. Môi trường kinh tế Ngày nay, không một nền kinh tế nào đứng độc lập mà có thể phát triển được.
Tất cả đều hoà nhập, phụ thuộc lẫn nhau. Các thông tin, các giao dịch được thực hiện xuyên quốc gia. Nhờ có Internet, thị trường mở rộng không biên giới. Do vậy, mọi tính toán kế hoạch phát triển không thể nào bó hẹp trong phạm vi một đơn vị, một tỉnh, một quốc gia.
Mặt khác, dựa vào tính mở của thị trường, các cơ quan, doanh nghiệp có thể lựa chọn được nhiều đối tác, thị trường, công nghệ, các giải pháp thuận lợi theo đặc điểm của mỗi đơn vị. Do có tính cạnh tranh cao, giá cả các sản phẩm và dịch vụ sẽ được giảm có lợi cho người tiêu dùng. Sự tiến bộ vượt Luận văn tốt nghiệp Trang|15 Chương 1. Cơ sở lý luận của việc ứng dụng CNTT trong hệ thống các CQ hành chính nhà nước.
bậc của kinh tế - xã hội dẫn đến sự phát triển như vũ bão của CNTT. Xu hướng toàn cầu hóa là cơ hội đưa CNTT thành công nghệ quan trọng phổ biến nhất, lan toả mạnh nhất và hứa hẹn nhất, giúp các cơ quan, doanh nghiệp Việt Nam nhanh chóng hòa nhập vào nền kinh tế toàn cầu. Nền kinh tế quyết định đến các chính sách chi tiêu của chính phủ. Các doanh nghiệp và cơ quan nhà nước đều chịu chung ảnh hưởng từ nền kinh tế của quốc gia.
Để phát triển ứng dụng CNTT, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng đắn trong vấn đề chi tiêu, vì đây là lĩnh vực phải chi phí khá cao cho các sản phẩm mang đặc tính chứa đựng hàm lượng chất xám cao, hao mòn vô hình lớn; chúng ta phải sẵn sàng đầu tư những khoản kinh phí lớn nhưng bên cạnh đó phải tính toán kỹ lưỡng, tránh lãng phí, không hiệu quả, phải coi đầu tư cho ứng dụng CNTT là đầu tư cho phát triển. Môi trường khoa học và công nghệ Tốc độ phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ trong những năm gần đây đưa CNTT trở thành ngành tăng trưởng cao, được ứng dụng trên rất nhiều lĩnh vực. Có thể nói CNTT đổi mới hàng ngày, hàng giờ, hàng giây. Vòng đời của các sản phẩm CNTT càng ngày càng được rút ngắn.
Chính điều này là nhân tố tác động tích cực đến sự phát triển của ứng dụng CNTT, làm ứng dụng CNTT trở nên phổ biến, thuận tiện và là công cụ để nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp và cả các cơ quan nhà nước. Các phát minh khoa học ngày càng gia tăng, hàng loạt các công nghệ mới được ra đời và được tích hợp vào các sản phẩm, dịch vụ. Khoảng cách từ phát minh đến ứng dụng rút ngắn. Sự cạnh tranh về công nghệ cao diễn ra quyết liệt.
Nếu như cách đây 30 năm, máy vi tính chỉ là một công cụ dùng để tính toán thì ngày nay nó đã có đủ chức năng thay thế một con người làm việc hoàn toàn độc lập. Truyền thông về Khoa học - Công nghệ diễn ra sôi động. Đặc biệt trong lĩnh vực CNTT, công nghệ truyền thông hiện đại đã giúp nối liền các khoảng cách về địa lý, phương tiện truyền tải. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ mới cũng đặt ra nhiều thách thức đáng kể.
Tăng mức độ tự động hóa sẽ thay thế dần lực lượng lao động không có kỹ năng. Tốc độ, chu kỳ của công nghệ, tỷ lệ công nghệ lạc hậu là các yếu tố tác động trực tiếp luôn phải cân nhắc khi ứng dụng CNTT. Nếu trước đây các hãng sản xuất phải mất rất nhiều thời gian để tăng tốc độ bộ vi xử lý lên gấp đôi thì hiện nay tốc độ này chỉ mất khoảng 2 đến 4 năm. Một bộ máy tính hay chiếc điện thoại thông minh mới tinh chỉ sau nửa năm đã trở nên lạc hậu với công nghệ và các phần mềm ứng dụng.
Công nghệ phát triển sẽ đem đến cơ hội thực sự cho các cơ quan, doanh nghiệp nếu có thể nắm bắt được nó, đồng thời cũng là mối đe dọa cho những cơ Luận văn tốt nghiệp Trang|16 Chương 1. Cơ sở lý luận của việc ứng dụng CNTT trong hệ thống các CQ hành chính nhà nước. quan, doanh nghiệp không có kỹ năng và không thể điều chỉnh được. Môi trường chính trị pháp luật Các chủ trương, chính sách phát triển và ứng dụng CNTT của Đảng và nhà nước là điều kiện tiên quyết để CNTT được ứng dụng ở Việt Nam.
Môi trường chính trị ổn định và các chính sách này sẽ tạo môi trường để CNTT được ứng dụng và định hướng phát triển ngành CNTT của quốc gia, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ứng dụng và phát triển CNTT, tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực CNTT. Trong khi nhiều quốc gia trên thế giới có các chính sách khó đoán trước và xã hội biến động thường xuyên gây ảnh hưởng đến các trung tâm CNTT thì Việt Nam cung cấp tính nhất quán và độ tin cậy. Các chính sách về quy hoạch các khu công nghệ tập trung, giảm thuế, hỗ trợ cho các công ty hoạt động trong ngành công nghệ…cũng bao gồm các khoản đầu tư cơ sở hạ tầng như công viên phần mềm mới và việc thúc đẩy kết nối CNTT. Tuy nhiên, Việt Nam nằm trong số các quốc gia có tỷ lệ vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ cao nhất.
Việc này làm giảm động lực sáng tạo của các doanh nghiệp và làm cho thị trường CNTT tại Việt Nam trở nên kém hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư nước ngoài.