Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở + Chương 2: Thực trạng quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. 5 + Chương 3: Biện pháp quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. - Kết luận và khuyến nghị - Phụ lục - Tài liệu tham khảo 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở CÁC TRƢỜNG THCS 1. Tổng quan vấn đề nguyên cứu 1.
Các nghiên cứu ngoài nước Năm 2012 UNESCO đã khuyến cáo về xu thế và khả năng giáo dục vượt ra khỏi những bức tường lớp học và nhà trường truyền thống để vươn tới một không gian giáo dục “suốt đời” và “hướng vào cuộc sống” (Life-long and life-wide learning), tạo công bằng, cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người. Cách tiếp cận này đã gợi mở cho hàng loạt các hình thức giáo dục/dạy học mới (chính thức hoặc không chính thức trên nền tảng chia sẻ kiến thức và mang tính xã hội sâu rộng), được đặt trong một phạm trù khái quát là giáo dục số (Digital education). Trong lĩnh vực nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, năm 2018-2019, Dự án “Chương trình đào tạo giáo viên - học giả nghiên cứu cho khu vực Thái Bình Dương: Ứng dụng công nghệ hình ảnh trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập” (do Quĩ FIRST, Bộ KH-CN tài trợ) được thực hiện với đối tác Hoa Kì (Trung tâm KHXH-NV Quốc gia). Dự án nghiên cứu, phát triển và tích hợp các công nghệ địa không gian (Geospatial Technologies) hỗ trợ thực hiện các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm hoặc ngoài thực địa, dạy học STEM và STEAM ở phổ thông; hệ thống thông tin địa lí (Geographic Information System - GIS) và công nghệ thực tế tăng cường (Augmented Reality - AR); công nghệ gắn thẻ địa lí (Geo-tag)… để xây dựng các bài giảng.
Các sản phẩm đầu ra này của Dự án FIRST được cấu trúc, tích hợp và phát triển trong một dự án giáo dục khác với Đại học Hull (Vương Quốc Anh) nhằm tạo ra các học liệu số trên nền tảng E-book tương tác thế hệ mới (cho các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Ngữ văn), dễ dàng đóng gói và phân phát trên các thiết bị di động và ứng dụng trên điện thoại thông minh. Bên cạnh đó, hệ thống các công cụ, giải pháp công nghệ được ứng dụng xuyên suốt trong các hoạt động đào tạo, quản lí quá trình dạy học tại Trường ĐHGD, bước đầu hình thành môi trường dạy học kết nối, cá nhân hóa cao độ trong dạy học tiếp cận công nghệ 4.0 (hồ sơ dạy học điện tử, phòng học và thiết bị thông minh HeyU, HeyC, các ứng dụng Web 2.0, BYOD trong dạy học và kiểm tra đánh giá các học phần…)[50]. Nghiên cứu về mạng xã hội của hai tác giả Christa S. Asterhan, Edith Bouton trường Giáo dục, Đại học Hebrew ở Jerusalem, Israel (2017) với nghiên cứu: Chia sẻ kiến thức qua mạng xã hội trong các trường trung học.
Bài viết đã phân tích các khía cạnh mạng xã hội và ảnh hưởng của nó tới học sinh trung học. 7 Đây là vấn đề nhiều người quan và vẫn còn nhiều tranh cãi. Bài viết phân tích sâu về cách thức giáo viên và học sinh đã sử dụng các công cụ này cho các mục đích liên quan đến trường học. Các tác giả nêu rõ: “Các kết quả kết hợp từ các nghiên cứu này cho thấy cùng với việc giáo viên sử dụng thông tin mạng xã hội với học sinh của mình cho các mục đích xã hội và tâm lý học sư phạm, mà còn để hỗ trợ các hoạt động học tập-giảng dạy”.
Các tác giả đưa ra những hoạt động chia sẻ kiến thức trực tuyến hiện nay, bàn luận về việc chia sẻ kiến thức cho học sinh trong bối cảnh giáo dục và coi việc chia sẻ như hành động hợp tác trong học tập. Từ vấn đề trên, có thể khẳng định: các nước phát triển đã ứng dụng CNTT vào giảng dạy ở hầu hết các cơ sở giáo dục theo nhiều hình thức tổ chức và quản lý khác nhau. Các tác giả đưa ra những kinh nghiệm quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường phổ thông, các nghiên cứu chỉ ra thuận lợi, tiềm năng và những khó khăn thách thức tại mỗi nhà trường và đưa ra các gợi ý về tầm nhìn chiến lược cho các nhà quản lý và định hướng những nghiên cứu cho tương lai. Đây chính là các nội dung được nghiên cứu, kế thừa và phát triển trong khuôn khổ của luận văn.
Các nghiên cứu trong nước Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu ứng dụng CNTT trong giáo dục, đào tạo ở Việt Nam đã được nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục, cơ quan, đơn vị quan tâm, tiêu biểu các công trình nghiên cứu sau: Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-Learning” do Viện Công nghệ Thông tin (Đại học Quốc gia Hà Nội) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về ứng dụng CNTT trong hệ thống giáo dục, lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam. Ứng dụng CNTT trong dạy học ở Việt Nam nhằm tích cực hóa quá trình học tập của học sinh, sinh viên của TS. Nguyễn Đức Ca; Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam Những xu thế mới của công nghệ trong giáo dục. Nguyễn Quý Thanh - TS.
Tôn Quang Cường. Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN Luận án của TS.Nguyễn Thanh Giang đã đề cập đến nghiên cứu của Tô Xuân Giáp về hai xu hướng chính sử dụng CNTT trong GD&ĐT (Nguyễn Thanh Giang, 2014) đó là CNTT vừa là một nội dung học vừa là phương tiện dạy học. Công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo Tác giả Đào Thái Lai đã nghiên cứu Đề tài khoa học cấp Bộ “Ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông Việt Nam” (2006) [31], đây là một trong số các công trình khoa học nghiên cứu tương đối toàn diện về ứng dụng CNTT trong dạy học. Với nội dung nghiên cứu chính về những định hướng ứng dụng CNTT trong dạy học ở phổ thông; các yếu tố CNTT cần ứng dụng trong dạy học ở phổ thông; những phương pháp sử dụng cơ bản các yếu tố này trong dạy học; những định hướng cơ bản trong việc sử dụng PMDH trong dạy học các bộ môn, hướng dẫn sử dụng PMDH; nghiên cứu việc sử dụng Internet trong dạy học.
Hướng dẫn tổ chức tập huấn cho GV đứng lớp, tổ chức thực nghiệm sư phạm. Các tác giả đã chỉ ra những phương pháp tiếp cận mới về hình thức tổ chức dạy học có ứng dụng CNTT, đồng thời đề xuất những biện pháp tận dụng tối đa các tiện ích mà CNTT mang lại trong dạy học. Thực tế cho thấy, ở Việt Nam việc ứng dụng CNTT trong HĐDH của các nhà trường còn tồn tại nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít các công trình nghiên cứu về vấn đề này một cách có hệ thống.
Để góp phần đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường học cần phải đảm bảo các yếu tố về cơ sở hạ tầng CNTT, về nhân lực, vật lực và tài lực; trong đó, công tác quản lý giữ vai trò rất quan trọng. Vì thế tác giả lựa chọn vấn đề nghiên cứu: “Quản lý hoạt động ứng dụng ccong nghệ thông tin trong hoạt động dạy học tại các trường THCS huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai” là cần thiết, số liệu không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố; nhằm góp phần tạo nên sự thành công của quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục, đào tạo nói chung và trong HĐDH ở các trường THCS trên địa bàn huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai nói riêng. Các khái niệm chính của đề tài 1. Khái niệm Quản lý Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau: - Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang :“Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.14] - Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm ".
- Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy. - Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định". - Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn.
Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích". Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó. Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công". Khái niệm Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến toàn bộ các phần tử và các lực lượng trong hệ thống giáo dục nhằm cho hệ thống vận hành đúng tính chất, nguyên lý và đường lối phát triển giáo dục, mà tiêu điểm hội tụ là thực hiện quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến.
Nội dung của quản lý Nhà nước về giáo dục bao gồm các vấn đề cơ bản được quy định tại Điều 104 Luật giáo dục năm 2019 (Luật số 43/2019/QH14 ngày 14 tháng 6 năm 2019). QLGD cũng chịu sự chi phối của các quy luật xã hội và tác động của quản lý xã hội. QLGD có những đặc trưng chủ yếu sau đây: Sản phẩm giáo dục là nhân cách nên QLGD phải ngăn ngừa sự dập khuôn, máy móc trong việc tạo ra sản phẩm và không được phép tạo ra phế phẩm. QLGD nói chung và quản lý nhà trường nói riêng phải chú ý đến sự khác biệt giữa đặc điểm lao động sư phạm so với lao động xã hội.