Chương I: Những vấn đề lý luận về ứng dụng công nghệ số trong phòng, chống tham nhũng Chương II: Khung pháp luật và thực trạng ứng dụng công nghệ số trong phòng, chống tham nhũng tại Việt Nam Chương III: Quan điểm, giải pháp tăng cường ứng dụng công nghệ số trong hoạt động phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay. 5 CHƢƠNG I - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ SỐ TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 1. Khái lƣợc về tham nhũng 1. Khái lược về tham nhũng Thuật ngữ tham nhũng (corruption) bắt nguồn từ tiếng La-tinh là corruptus, có nghĩa là lạm dụng, phá hoại hay vi phạm.
Từ điển Oxford định nghĩa tham nhũng là sự bóp méo hay phá hoại tính liêm chính trong thực thi công vụ bằng cách hối lội hoặc đối xử thiên vị [47]. Trong Từ điển Merriam Webster, tham nhũng là sự khuyến khích điều xấu bằng những cách thức sai trái hoặc phi pháp [47]. Theo Từ điển Tiếng Việt thì tham nhũng là lợi dụng quyền hành để tham ô, nhũng nhiễu dân [47]. Như vậy, xét chung, tham nhũng là những hành vi trái phép hoặc bất hợp pháp.
Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng (United Nations Convention against Corruption – UNCAC) không đưa ra định nghĩa về tham nhũng nhưng xác định một tập hợp những hành vi được coi là tham nhũng. Công ước Luật dân sự về chống tham nhũng của Hội đồng Châu Âu năm 1997 định nghĩa: Tham nhũng là vệc đòi hỏi, gợi ý, đưa ra hoặc trực tiếp hay gián tiếp nhận của hối lộ hoặc lợi thế bất chính khác, hay triển vọng về của hối lộ hay lợi thế bất chính đó, làm ảnh hưởng đến sự thực hiện đúng đắn nhiệm vụ hoặc công việc của người nhận hối lộ hoặc nhận lợi thế bất chính hoặc triển vọng của người đưa hối lộ hay lợi thế bất chính đó [63]. Trong thực tiễn, một số tổ chức quốc tế đã đề xuất định nghĩa về tham nhũng để phục vụ cho các hoạt động của họ như sau: - Ngân hàng thế giới định nghĩa: Tham nhũng là hành vi lạm dụng quyền lực công để thu lợi ích riêng [60]. 6 - Tổ chức Minh bạch quốc tế định nghĩa: Tham nhũng là hành động lạm dụng quyền lực được giao để thu lợi riêng [61].
- Ngân hàng Phát triển Châu Á định nghĩa [62]: Tham nhũng là sự lạm dụng quyền lực công hoặc tư để thu lợi riêng; hoặc là: Tham nhũng là hành động lạm dụng chức vụ để làm giàu bất chính hoặc bất hợp pháp cho bản thân hoặc cho những người thân cận của một bộ phận nhân viên ở cả khu vực công và khu vực tư, hoặc để tạo cơ hội cho những kẻ khác làm như vậy. Luật Phòng, chống tham nhũng của Việt Nam định nghĩa tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi [2], trong đó: - Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức; Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. - Vụ lợi là việc người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm đạt được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng.
Từ những phân tích trên, có thể thấy đặc điểm nổi bật của tham nhũng 7 là hành vi lợi dụng, lạm dụng quyền hạn và vị thế để thu lợi bất chính. Đối tượng hưởng lợi không chỉ là người trực tiếp thực hiện hành vi mà bao gồm cả những chủ thể khác như người thân, đồng nghiệp, bạn bè… của họ. Tham nhũng có thể diễn ra cả ở khu vực công và tư, mặc dù thường được chú ý hơn ở khu vực công [56]. Về bản chất, tham nhũng là hệ quả của sự tha hoá về đạo đức của những chủ thể nắm giữ quyền lực.
Sự tha hoá đó được xem như là một vấn đề mang tính quy luật: “Quyền lực có xu hướng dẫn tới sự tha hoá, đồi bại, quyền lực độc đoán sẽ dẫn tới sự tha hoá, đồi bại tuyệt đối” [47]. Từ cách tiếp cận đó, có thể thấy tham nhũng là một “căn bệnh” chung, mang tính cố hữu của mọi nhà nước, bất kể thuộc thể chế chính trị nào, bởi nhà nước là một thiết chế quyền lực công [47]. Cùng với quan liêu, căn bệnh tham nhũng xuất hiện ngay từ khi nhà nước ra đời và sẽ tồn tại cùng với nhà nước cho tới khi nó tiêu vong [47]. Những nỗ lực phòng, chống tham nhũng, cho dù quyết liệt và bền bỉ tới đâu cũng chỉ có thể kiềm chế, giảm thiểu chứ không thể xóa bỏ triệt để tình trạng tham nhũng trong bộ máy nhà nước [47].
Về khía cạnh này, theo một nhà khoa học được giải thưởng Nobel kinh tế năm 1992 đã từng phát biểu: “Chúng ta chỉ có thể hoàn toàn triệt tiêu tham nhũng khi xóa bỏ nhà nước mà thôi” [47]. Nguyên nhân của tham nhũng Tham nhũng do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân khách quan: Thứ nhất, hệ thống chính sách và các văn bản pháp luật còn thiếu sự chặt chẽ, thiếu đồng bộ dẫn đến tình trạng áp dụng tùy tiện. Đồng thời, việc sửa đổi, bổ sung, thay đổi thường xuyên các văn bản, chính sách làm cho 8 người dân, đặc biệt là các doanh nghiệp không kịp cập nhật, nắm bắt được các quyền và nghĩa vụ của họ.
Thứ hai, công tác tuyên truyền mang tính phong trào, thiếu công khai, minh bạch nên người có chức vụ, quyền hạn sẽ không bị giám sát bởi những chủ thể khác, hoặc nếu hành vi tham nhũng của họ có bị phát giác cũng khó có thể đánh giá được toàn diện, hậu quả là trong bối cảnh đó, người có chức vụ, quyền hạn thường có xu hướng lạm dụng quyền lực được giao vì mục đích vụ lợi. Vì vậy, thiếu công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị chính là một trong những nguyên nhân tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các hành vi tham nhũng. Thứ ba, thiếu một môi trường cạnh tranh lành mạnh trong các hoạt động kinh doanh. Nếu môi trường kinh doanh còn hiện tượng độc quyền trong cung cấp dịch vụ, hàng hóa thì các doanh nghiệp thay vì nâng cao năng lực cạnh tranh một cách lành mạnh sẽ tìm cách phát triển quan hệ với các cơ quan nhà nước, các đối tác kinh doanh.
Họ sẵn sàng chi trả các khoản chi phí không chính thức để giành được các hợp đồng lớn hoặc trúng những gói thầu cung cấp hàng hóa thiết bị, đặc biệt trong hoạt động mua sắm công. Sự thiếu hoàn thiện của các quy định pháp luật về đấu thầu, thiếu cơ chế kiểm soát xung đột lợi ích… đều là những điều kiện thúc đẩy nguy cơ thực hiện các hành vi tham nhũng. Thứ tư, chế độ đãi ngộ chưa thỏa đáng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong khu vực công. Nếu có sự chênh lệch về tiền lương và chế độ đãi ngộ quá lớn giữa khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước sẽ làm phát sinh động cơ tham nhũng của cán bộ, công chức, viên chức trong các tình huống xung đột lợi ích.
Trong trường hợp tiền lương và những lợi ích vật chất chính thức có được từ công việc không đủ để đáp úng nhu cầu 9 sinh hoạt của bản thân và gia đình, họ sẽ tìm cách thực hiện những hành vi bất chính để trục lợi cá nhân do chính chức vụ, quyền hạn của họ tạo ra. Thứ năm, môi trường văn hóa, phong tục, tập quán dễ bị lợi dụng để biện minh, ủng hộ cho hành vi tham nhũng, ví dụ như như tập quán “miếng trầu là đầu câu chuyện”, “đóng cửa bảo nhau”… và kể cả tâm lý phục tùng vô điều kiện cấp trên hoặc người có kinh nghiệm, người cao tuổi…thì những phong tục, tập quán đó, mặc dù có bản chất tốt đẹp, vẫn có thể bị lợi dụng, sử dụng như chất xúc tác cho những hành vi tham nhũng hoặc như vật cản với những nỗ lực phòng, chống tham nhũng [47]. Thứ sáu, sơ hở trong tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, bộ máy nhà nước. Nếu tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nói chung, của bộ máy nhà nước nói riêng còn nhiều bất hợp lý thì hiệu quả hoạt động sẽ không cao và tạo ra nhiều kẽ hở cho những hành vi tham nhũng.
Nguyên nhân chủ quan - Tổ chức, hoạt động, phân hóa chức năng của hệ thống chính trị nói chung còn nhiều khuyết điểm. Chưa phân hóa rõ nhiệm vụ của hệ thống cơ quan chuyên trách về phòng, chống tham nhũng. - Nhận thức của một số bộ phận cán bộ, công chức còn yếu kém, chưa nhận thức đầy đủ về hậu quả của tham nhũng, lòng tham nảy sinh khi pháp luật về phòng, chống tham nhũng chưa đủ mạnh dẫn đến việc suy đồi đạo đức, tự diễn biến, tự chuyển hóa. Hậu quả của tham nhũng Tham nhũng dẫn đến hậu quả nghiêm trọng bao gồm tất cả các lĩnh vực trong đời sống.
Thứ nhất, hậu quả về mặt chính trị, xã hội. Tệ nạn tham nhũng, hối lộ, 10 ăn chơi phung phí gây tác hại rất lớn, làm tổn hại đến uy tín của Đảng và Nhà nước, gây bất bình và giảm lòng tin của nhân dân đối với nhà nước. Tham nhũng cũng dẫn đến bất bình đẳng, chia rẽ và xung đột xã hội, làm phân chia các tầng lớp trong xã hội thành hai nhóm giàu, nghèo, trong đó một nhóm chủ yếu chỉ hưởng thụ mà không phải lao động, còn nhóm kia phải vật lộn làm việc để kiếm sống. Trong những xã hội có sự hoành hành của tham nhũng, khoảng cách giữa các nhóm giàu, nghèo thường tăng lên rất nhanh, từ đó thổi bùng lên lòng đố kỵ, sự nghi ngại, tính ghen ghét và tư tưởng thù địch giữa các nhóm.