Chương 1: Những quy định chung Chương 2: Quy hoạch không gian Chương 3: Quy hoạch chuẩn bị kỹ thuật đô thị Chương 4: Quy hoạch giao thông Chương 5: Quy hoạch cấp nước Chương 6: Quy hoạch thoát nước thải, quản lý chất thải rắn và nghĩa trang Chương 7: Quy hoạch cấp điện Phạm vi áp dụng: Quy chuẩn xây dựng Việt Nam về quy hoạch xây dựng là những quy định bắt buộc phải tuân thủ trong quá trình lập, thẩm định và phê duyệt các đồ án quy hoạch xây dựng; là cơ sở pháp lý để quản lý việc ban hành, áp dụng các tiêu chuẩn quy hoạch xây dựng và các quy định về quản lý xây dựng theo quy hoạch tại địa phương. - TCVN4449-1987 tiêu chuẩn thiết kế quy hoạch đô thị Tiêu chuẩn Việt Nam về thiết kế quy hoạch đô thị (TCVN4449-1987) áp dụng để thiết kế quy hoạch xây dựng các đô thị mới, cải tạo các đô thị hiện có của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bộ Tiêu chuẩn này trình bày n chi tiết về thiết kế quy hoạch cụ thể cho từng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật độ thị. Nội dung bao gồm 14 phần và hệ thống phụ lục.
[2] Phần 1: Nguyên tắc chung Phần 2: Chọn đất xây dựng đô thị và xác định dân số đô thị Phần 3: Quy hoạch khu công nghiệp và kho tàng công cộng Phần 4: Quy hoạch giao thông đối ngoại Phần 5: Quy hoạch khu dân dụng Phần 6: Quy hoạch hệ thống công trình phục vụ công cộng Phần 7: Quy hoạch cây xanh đô thị Phần 8: Hệ thống giao thông trong đô thị Phần 9: Cấp điện Phần 10: Cấp nước Phần 11: Thoát nước Phần 12: Mạng lưới công trình ngầm Phần 13: Chuẩn bị kĩ thuật khu đất xây dựng đô thị Phần 14: Quy hoạch vùng ngoại thị 2. Một số khái niệm a) Đất đai Đất đai là một khoảng không gian có thời hạn theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm động thực vật, nước mặt, nước ngầm và tài nguyên khoáng sản trong lòng đất) theo chiều ngang - trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn cùng nhiều thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người. [10] Trong Hội nghị quốc tế về Môi trường ở Rio de Janerio, Brazil, 1993 có đưa ra khái niệm đất đai: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con n người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xã, nhà cửa.” Luật Đất đai 2003 của Việt Nam quy định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặt biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng.[1] Theo luật đất đai, đất ở là đất ở tại đô thị và nông thôn. [13] c) Đất ở đô thị Là đất nội thành phố, đất nội thị xã và thị trấn; đất ngoại thành, ngoại thị đã có quy hoạch và được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt về phát triển đô thị, được quản lý như đất đô thị.
[1] d) Đô thị và khu đô thị Đô thị : Là điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng đô thị thích hợp và có quy mô dân số thành thị tối thiểu là 4.000 người (đối với miền núi tối thiểu là 2.800 người) với tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu là 65%. Đô thị gồm các loại: thành phố, thị xã và thị trấn. Đô thị bao gồm các khu chức năng đô thị.[1] Khu đô thị : Là khu vực xây dựng một hay nhiều khu chức năng của đô thị, được giới hạn bởi các ranh giới tự nhiên, ranh giới nhân tạo hoặc các đường chính đô thị. Khu đô thị bao gồm: các đơn vị ở; các công trình dịch vụ cho bản thân khu đô thị đó; có thể có các công trình dịch vụ chung của toàn đô thị hoặc cấp vùng.
Đất dự phòng phát triển, đất nông lâm nghiệp trong đô thị và các loại đất không phục vụ cho hoạt động của các chức năng đô thị không phải là đất xây dựng đô thị. [1] f) Quy hoạch xây dựng; quy hoạch xây dựng đô thị Quy hoạch xây dựng: Là việc tổ chức hoặc định hướng tổ chức không gian vùng, không gian đô thị và điểm dân cư, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống tại các vùng lãnh thổ đó, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng, đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.[1] Quy hoạch đô thị: Là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị.[1] g) Phân tích lựa trọn đất xây dựng đô thị Phân tích lưạ chọn đất xây dựng độ thị là việc phân tích tổng hợp các yếu tố hiện trạng của khu đất từ đó xác định và đánh giá tiềm năng của khu đất đó cho mục đích phát triển đô thị. Hệ thống phân loại đất Hệ thống phân loại sử dụng đất Tại Việt Nam, các vấn đề liên quan đến quản lý sử dụng đất và sử dụng đất đất đai được điều tiết bởi luật đất đai. Theo luật đất đai 2003, đất đai được chia thành những loại sau: i) đất nông nghiệp (trồng cây hàng năm, trồng cây lâu năm, rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và đất nông nghiệp khác); ii) đất phi nông nghiệp (đất ở tại đô thị và nông thôn, trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, an ninh quốc phòng, sản xuất phi nông nghệp, mục đích công cộng, tôn giáo, di tích nghĩa trang, sông ngòi, mặt nước chuyên dùng, phi nông nghiệp khác); iii) nhóm đất chưa sử dụng.
[13] n Hệ thống phân loại đất trong xây dựng đô thị Đất đai xây dựng đô thị được đánh giá tổng hợp từ các yếu tố: điều kiện tự nhiên, giá trị kinh tế đất, kinh tế xã hội, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật và môi trường. Theo TCVN 4449-1987, đất đai xây dựng đô thị được đánh giá và phân loại theo mức độ thuận lợi: Xây dựng thuận lợi, xây dựng ít thuận lợi, xây dựng không thuận lợi và không được phép xây dựng. Đất đai xây dựng đô thị đảm bảo thuận lợi hoặc ít thuận lợi, đủ diện tích xây dựng đô thị trong giai đoạn quy hoạch, đảm bảo chất lượng về nguồn nước và khối lượng, không nằm trong phạm vi bị ô nhiễm nặng và không nằm trong phạm vi bị cấm xây dựng. Như vậy, đất đai được phân thành hai khu vực chính: khu vực cấm xây dựng và khu vực được xem xét xây dựng; từ đó khu vực xem xét xây dựng được chia thành ba loại: thuận lợi, ít thuận lợi và không thuận lợi.
Các nguyên tắc cơ bản trong lựa chọn đất xây dựng. Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng (QCXDVN 01:2008/BXD); khi lựa chọn đất xây dựng cần đảm bảo các nguyên tắc sau: [1] 1) Đảm bảo khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và đất đai. 2) Tận dụng địa hình, cây xanh, mặt nước và các điều kiện thiên nhiên nơi quy hoạch. 3) Khai thác tối ưu khả năng cung cấp và phục vụ của hệ thống hạ tầng đô thị.
4) Đảm bảo cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trường. 5) Không nằm trong phạm vi cấm xây dựng hay hạn chế phát triển đô thị. 6) Có tính khả thị cao về khía cạnh kinh tế để triển khai thực hiện. Các yêu cầu đất đai trong xây dựng đô thị.
Cũng theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựng (QCXDVN 01:2008/BXD); khi lựa chọn đất xây dựng cần đảm bảo các yêu cầu sau. [1] Có năm nhóm yêu cầu chính với các yêu cầu cụ thể về lựa trọn đất xây dựng đô thị: 1) Yêu cầu về điều kiện tự nhiên: - Yêu cầu về độ dốc địa hình thuận lợi. - Yêu cầu đảm bảo địa chất ổn định. n - Yêu cầu tránh lũ lụt.
- Yêu cầu khí hậu ít bị ảnh hưởng nguy hại đến sức khoẻ con người và sản xuất. - Yêu cầu về khả năng chịu nén của đất. 2) Yêu cầu tài nguyên đất đai: - Yêu cầu sử dụng đất hợp lý. - Yêu cầu bảo vệ đất nông nghiệp.
3) Yêu cầu về vị trí không gian: - Yêu cầu khoảng cách đến đô thị đã phát triển. - Yêu cầu khoảng cách đến hạ tầng công cộng đô thị. - Yêu câù về khoảng cách đến hạ tầng kỹ thuật đô thị. 4) Yêu cầu về môi trường, cảnh quan thiên nhiên và di tích văn hoá lịch sử: - Yêu cầu không nằm trong khu vực có nguy cơ gây ô nhiễm nặng.
- Yêu cầu bảo vệ nguồn nước, khu vực tầng ngầm nước, bổ cập nước. - Yêu cầu về bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên và di tích văn hoá lịch sử. 5) Yêu cầu về ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu. Công nghệ GIS trong phân tích và lựa chọn đất.
Hệ thống thông tin địa lý (GIS) Khái niệm về GIS: Hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống kết hợp giữa con người và hệ thống máy tính cùng các thiết bị ngoại vi để lưu trữ, phân tích, xử lý, hiển thị các thông tin địa lý nhằm phục vụ một mục đích nghiên cứu và quản lý nhất định. Có thể được hiểu GIS là một công nghệ xử lý tích hợp dữ liệu có toạ độ (bản đồ) với các dữ liệu khác để biến chúng thành thông tin hữu ích cho nghiên cứu và quản lý. Các thành phần của GIS: GIS được kết hợp bởi năm thành phần chính: phần cứng, phần mềm, dữ liệu, con người và phương pháp.