Đặt vấn đề: Nước sạch là nhu cau thiết yếu trong đời sống của mỗi người ở bất cứ nơi đâu. Con người không thể sống mà không có nước sạch. Ngoài ra, nước sạch cũng đóng vai trò rat quan trọng trong lao động sản xuất. Vì vậy, nguồn cung cấp nước sạch 6n định và đảm bảo chất lượng luôn được quan tâm xây dựng và hướng đến hoàn thiện.
Sự phát triển kinh tế, các yếu t6 tự nhiên và con người đang làm ảnh hưởng ngày càng nhiều lên môi trường sống. và môi trường nước cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng này. Nguồn nước tự nhiên cũng bi ô nhiễm ít nhiều tùy khu vực bao gồm nước ngâm và các nguồn nước mặt như sông, suối, hd., vì vậy việc sử dụng nước giếng, nước sông, nước suối hay nước mưa trong sinh hoạt và đời sống của những người dân không còn an toàn nữa. Bên cạnh đó dân cư ngày càng đông đúc với mật độ dân số cao ở các đô thị làm cho việc khoan giếng hút nước ngầm lên sử dụng làm sụt lún và những hậu quả nguy hại khó xử lý ở những nơi này, đặc biệt như thành phố Hồ Chí Minh vì vậy người dân được khuyến khích không xai nước giếng và có nhiều nơi đã cam khoan giếng: thay vào đó người dân và các đơn vi sản xuất sử dụng nước sạch được lay từ mang lưới cấp nước sạch do các công ty cấp nước của nhà nước xây dựng, quản lý và khai thác.
Mạng lưới cấp nước sạch là một trong những hạ tầng quan trọng ở cả khu vực đô thị lẫn nông thôn của đất nước. Mạng lưới cấp nước cũng phát triển theo tốc độ phát triển của đô thị, dân số và kinh tế. Ở thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2014, thực hiện Nghị quyết 38/2013/NQ-HĐND ngày 12 tháng 12 năm 2013 về nhiệm vụ kinh tế - văn hóa — xã hội có điều khoản quy định tỷ lệ hộ dân đô thị và nông thôn được cấp nước sạch là 100%, do vậy sự phát triển của mạng lưới cấp nước càng biến động mạnh và nhanh. Ngoài ra, với tuổi thọ lâu đời thi mạng lưới cấp nước hiện tại ở thành phố Hỗ Chí Minh cũng cần được thay thế, sửa chữa và nâng cấp nhiều nên cũng sẽ gây ra nhiều thay đổi vé không gian và thuộc tính của mạng lưới cấp nước.
Thêm vảo đó, mạng lưới cấp nước lại có tính chất đặc biệt ở chỗ, đó là khối tài sản lớn, ton tại ngầm, ngoai môi trường khắc nghiệt, khó quản lý, dé hư hao, thay đổi và HV: Trần Bích Dung cần nhiều sự sửa chữa, gắn mới, thay thế.Nước được cấp từ mạng lưới cấp nước sạch được lay từ các nha máy nước xử lý nước sông và nước ngầm, nguồn nước xử lý phải trải qua các quy trình nghiêm ngặt, các bước kiểm tra đạt tiêu chuẩn dé đảm bảo chất lượng, đảm bảo an toàn sức khỏe người sử dụng nước nên nếu quản lý không tốt, gây thất thoát nhiều nước của mạng lưới sẽ đây giá nước tăng cao ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế của người sử dụng nước và ngân sách nhà nước. Việc quản lý và khai thác mạng lưới cấp nước sạch yêu cau phải hợp lý và hiệu quả nhất có thể. Từ đó đặt ra yêu cầu cho người quản lý mạng lưới là phải làm sao dé việc quản lý và vận hành mạng lưới được chính xác, hiệu quả và thuận tiện hơn. Theo báo cáo của Tổng công ty cấp nước Sài Gòn (Sawaco) tại Hội nghị chuyên dé về phương án điều chỉnh giá nước sạch giai đoạn 2015-2019 thì ty lệ thất thoát nước của năm 2014 là 33,5% tương ứng 500.
Tỷ lệ thất thoát này là rất lớn, gây lãng phí lớn trong khi trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh còn hơn 300.000 hộ dân chưa có nước sạch. Tại buổi thảo luận về lộ trình tăng giá nước sạch giai đoạn 2015-2019 Tổng công ty cấp nước Sài Gòn dé xuất tăng giá nước 10.5% mỗi năm (hiện nay là 5.300 đồng/m” chưa thuế), như vậy người dân sử dụng nước sẽ phải chịu giá đắt vì gánh phần nước bị thất thoát (theo http://www .vn/129322/HDND-TPHCM html). Ty lệ that thoát nước sạch này có nhiều nguyên nhân khác nhau như đường ống bi mục, bể do không được thay thế nâng cấp kịp thời; các công trình đường xá, cầu công, các công trình xây dựng công cộng, ha tang khác gây bé đường ống của mạng lưới; mạng lưới quá lớn, công kénh trong khi công tác quản lý chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, các phần mềm ứng dụng không đáp ứng được yêu cầu quản lý sát sao, tạo điều kiện cho các cá nhân không tốt ăn cắp nước của mạng lưới bằng nhiễu phương thức khó kiểm soát;. Nếu có hệ thống quản lý tốt cho mạng lưới cấp nước sạch thì có thể kiểm soát lượng nước thất thoát, nhằm giảm thiểu đáng kế lượng nước thất thoát này.
Mục tiêu hướng đến của ngành là xây dựng được một mô hình quản lý cấp nước sạch hiện đại, mang lại hiệu quả kinh tế, giải quyết tốt việc cập nhật thông tin không gian và thuộc tính của mạng lưới câp nước, quản lý chính xác về thời gian thực các HV: Trần Bích Dung thông tin về áp lực, lưu lượng, những thiết bị cần thay mới hoặc kiểm tra có thời hạn, mối tương quan không gian các yếu tố trên mạng lưới phục vụ cho dịch vụ khách hàng, thực hiện các báo cáo theo mau. Quan tâm tới van dé này, học viên đã tim hiểu về tình hình quản lý mang lưới cấp nước hiện tại và các công tác trong quy trình hoạt động của Công ty Cổ phan Cấp nước Tân Hòa, đây cũng là đại diện cho hầu hết các công ty cấp nước khác đang hoạt động trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh va rút ra được một số nhận xét thực tế như sau: Công ty Cổ phần Cấp nước Tân Hòa hiện tại thực hiện quản lý và vận hành mạng lưới cấp nước cho hai quận là quận Tân Binh, quận Tân Phú và 1 phan đường Đặng Văn Ngữ thuộc quận Phú Nhuận. Mạng lưới rất lớn, phức tạp, nhiều nơi cần được thay thế, sửa chữa, cải tạo và đang phát triển thêm để hoàn chỉnh mạng lưới. Toàn bộ mạng lưới cấp nước của Công ty Cổ phan Cấp nước Tân Hòa được vẽ thành họa dé mạng lưới trên nên họa đồ địa chính trên phan mém Cad.
Hién tại việc quan lý mang lưới cấp nước, đặc biệt các công việc có liên quan họa đỗ mạng lưới sẽ được thực hiện trên Cad là chủ yếu, Công ty cũng đã đầu tư tìm hiểu và ứng dụng GIS nhưng kết quả cụ thé là một phan mạng lưới đã được xây dựng thành cơ sở dữ liệu GIS nhưng rất sơ xài, chưa ứng dụng được gì đáng kế vào công việc ngoài việc cung cấp cái nhìn trực quan và toàn cảnh hơn va GIS chỉ đang được sử dụng như là phần phụ hỗ trợ chứ chưa có chức năng nào được khai thác mang lại lợi ích kinh tế. Quản lý trên Cad tuy cũng trực quan, thuận tiện cho việc thiệt kê nhưng vần còn nhiêu hạn chê như: > Quản lý không đông nhất do có nhiều thông tin khác nhau của cùng đối tượng được nhiều phòng, ban, đội khác nhau cập nhật lên nhiều file khác nhau. Vì mỗi phòng. ban, đội sử dụng file riêng của mình, dẫn đến cùng một đối tượng có thé được ký hiệu dưới nhiều ký hiệu khác nhau, những đôi tượng vẽ với vi trí tương đôi thì trên các file khác nhau sẽ lệch vi trí với HV: Trần Bích Dung nhau.
Két quả của việc không đông nhat nay làm cho việc tìm kiêm, tra cứu, lưu trữ, thống kê dữ liệu gặp nhiều khó khăn. > Không có mỗi liên kết giữa doi tượng không gian và thông tin thuộc tinh nên rất hạn chế trong việc truy xuất những thông tin liên kết với nhau và nâng cao dịch vụ khách hàng. Những thống kê về thuộc tính không được gan liền với yếu tố không gian, dẫn đến việc xử lý công việc yêu cầu nhiều trí nhớ, kinh nghiệm, khó bàn giao và chỉ dẫn. > Mất nhiều thời gian khi thực hiện các thông kê về mặt không gian, không thực hiện được các phân tích không gian.
Việc quản lý và vận hành mạng lưới cấp nước theo phương pháp và nguồn dữ liệu hiện tại cũng đáp ứng được phan nào nhu cau đang sử dụng nhờ vào những họa đỗ rất tốn công cập nhật và xây dựng nhưng không đáp ứng được các yêu cau phát triển, khắc phục tình trạng thất thoát nước và nâng cao dịch vụ, chất lượng phục vụ khách hàng cũng như tiết kiệm thời gian, hiệu quả hơn trong công việc và hướng đến tạo mối liên hệ hỗ trợ qua lại với các ngành nghề có liên quan nhằm mang lại lợi ích không chỉ riêng cho phía Công ty mà còn chung cho cả phát triển hạ tầng của thành phố Hồ Chí Minh. Mà nếu ứng dụng GIS vào kết hợp hoặc thay thế Cad trong công việc của Công ty thì các hạn chế này sẽ dễ dàng khắc phục. Ngoài ra, nếu xây dựng được hệ thông GIS quản lý và vận hành mạng lưới cấp nước hoàn chỉnh sẽ là nên tảng phát triển thêm nhiều chức năng hỗ trợ khác trong công việc của Công ty cũng như hướng đến mục tiêu chung của xã hội là kết hợp các dữ liệu lại với nhau nhằm phục vụ nhiệm vụ phát triển hạ tầng, phát triển đất nước nói chung. Vì là một phân trong hạ tầng kỹ thuật của đất nước nên mạng lưới cấp nước không thé phát triển độc lập hoàn toàn mà không liên quan gì đến các hạ tầng và lĩnh vực khác, thế nên yêu cầu về một hệ thống để quản lý nó cũng phải đáp ứng được sự liên quan này.
Vậy việc nghiên cứu tìm hiểu ứng dụng GIS vào quản lý cấp nước là cần thiết và nên làm càng nhanh càng tốt. GIS là một công cụ máy tính để lập bản đồ và thực hiện các phân tích trên cơ sở dữ liệu đã được xây dựng. GIS đã được ứng dụng và đạt hiệu quả quản lý và truy HV: Trần Bích Dung xuất trong nhiều lĩnh vực và chuyên ngành khác nhau như quản lý môi trường, y tế, điện lực, nông nghiệp, lâm nghiệp và đặc biệt trong quản lý mạng lưới cấp nước sạch.