CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Kiểm tra đánh giá Theo giáo trình Kiểm tra đánh giá trong giáo dục [23] của nhóm tác giả Sái Công Hồng, Lê Thái Hưng, Lê Thị Hoàng Hà, Lê Đức Ngọc xuất bản năm 2017, kiểm tra, đánh giá có thể hiểu như sau: “Kiểm tra đánh giá là quá trình thu thập và thảo luận về thông tin từ nhiều nguồn khác nhau nhằm có được một sự hiểu biết sâu sắc về những điều người học biết, hiểu và có thể làm với kiến thức của mình, như là kết quả của quá trình học tập của người học; mục đích cuối cùng của quá trình kiểm tra đánh giá là kết quả kiểm tra đánh giá được sử dụng để nâng cao chất lượng học tập.” [23, 13-14] “Kiểm tra đánh giá trong dạy học được định nghĩa là quá trình thu thập thông tin để đưa ra những quyết định giáo dục liên quan tới người học, để phản hồi cho người học về sự tiến bộ, những điểm mạnh và điểm tồn tại trong học tập của chúng, để đưa ra phán quyết về hiệu quả của công tác giảng dạy và sự phù hợp của chương trình đào tạo và cuối cùng là để cung cấp thông tin xây dựng chính sách.” (AFT Liên đoàn người dạy Hoa Kì, NCME Hội đồng quốc gia về đo lường trong giáo dục, NEA Hiệp hội giáo dục quốc gia, Teacher Competence in Educational Assessment of Students 1990: 1) [31, 14] “Đánh giá là sự giải thích có tính chất tổng kết các dữ liệu có được từ các bài kiểm tra hay những công cụ đánh giá khác. Đánh giá là việc định ra giá trị của bản thân đối tượng được đánh giá trong mối tương quan với các đối tượng hay môi trường xung quanh.
Đánh giá là việc nhận định sự xứng đáng của một cái gì đó, chẳng hạn đánh giá một chương trình, một nhà trường, một chính sách có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển của xã hội. Dựa vào 10 sự đánh giá, người ta định giá trị kết quả đánh giá để phán đoán và đề xuất các quyết định giáo dục.” [31, 14-15] “Đánh giá tổng kết là khi kết quả đánh giá được sử dụng để đi đến một nhận định mang tính đo lường, chẳng hạn như cho điểm kết quả học tập của người học, đo lường hiệu quả của chương trình đào tạo hay mức độ thành công của nhà trường. Đánh giá tiến trình diễn ra ngay trong quá trình đào tạo, cung cấp thông tin cho người học và người dạy nhằm cải tiến, điều chỉnh hoạt động dạy và học sao cho có thể mang lại chất lượng và hiệu quả cao hơn. Năng lực và năng lực đọc hiểu văn bản Theo John Erpenbeck, 1998 “năng lực có thể được hiểu là khả năng, là hiệu suất công việc được chứng minh qua kết quả hoạt động thực tế.
Nó liên quan đến kiến thức, kĩ năng, thái độ và đặc điểm cá nhân. Năng lực được xây dựng dựa trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm, củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí”. Theo Xavier Roegiers, 2004 quan niệm năng lực là “sự tích hợp các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong những tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do những tình huống này đặt ra. Dù có các cách diễn đạt khác nhau nhưng nhìn chung các quan niệm về năng lực đều giống nhau ở một điểm là khi nói tới năng lực là nói tới kiến thức, kĩ năng và khả năng huy động các kiến thức, kĩ năng đó để giải quyết thành công các vấn đề do cuộc sống đặt ra.
Một người được xem là có năng lực về một lĩnh vực phải là người có khả năng giải quyết thành công các vấn đề trong cuộc sống thuộc lĩnh vực đang nói tới.” [31, 31] Có rất nhiều ý kiến về đọc hiểu, tựu trung lại có thể hiểu đọc là quá trình giải mã, hiểu và đáp ứng đối với văn bản với các nội dung chính gồm: giải mã hệ thống các từ ngữ (kết quả có thể phát âm hoặc chuyển thành dạng ngôn ngữ thầm); hiểu là chỉ ra được ý nghĩa của từ ngữ, đoạn văn, văn bản; thấy 11 được các hình tượng và phát hiện ra ý nghĩa, tác dụng của hình tượng; đáp ứng là nhấn mạnh đánh giá và vận dụng tri thức vào cuộc sống. Các phương diện của đọc hiểu gồm: đọc hiểu như một kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết), đọc hiểu là một dạng của kĩ năng đọc, nhấn mạnh đọc có nhận thức và đọc như một hoạt động của con người (đồng nghĩa với nghiên cứu, tìm hiểu, khám phá…). Đổi mới kiểm tra, đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 Điểm khác biệt giữa đánh giá tiếp cận nội dung (theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2006) và đánh giá tiếp cận năng lực (theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018): Đánh giá theo hướng Đánh giá theo hướng tiếp cận nội dung tiếp cận năng lực Học sinh làm bài kiểm tra trên giấy Học sinh làm đa dạng các bài kiểm theo định kì (khảo sát chất lượng đầu tra (kiểm tra trên giấy, trên máy tính, năm học, kiểm tra giữa học kì, kiểm laptop qua các ứng dụng, trang web, tra cuối học kì) theo hình thức cá thực hiện các dự án học tập, thuyết nhân.) theo hình thức cá nhân, cặp đôi, nhóm. trong quá trình học.
Giáo viên đánh giá mức độ lĩnh hội Giáo viên đánh giá dựa theo mức độ kiến thức của từng người học dựa vận dụng kiến thức, kĩ năng của theo điểm số và so sánh kết quả học người học. Từ đó đưa ra nhận xét về tập của các học sinh với nhau để năng lực, khả năng hợp tác, làm việc nhận xét. nhóm và sự tiến bộ của người học trong cả quá trình. Việc đánh giá tập trung vào điểm số Việc đánh giá tập trung vào quá trình đạt được của học sinh sau mỗi bài tạo ra sản phẩm học tập, khả năng 12 kiểm tra.
hợp tác giữa các thành viên trong nhóm. Nội dung đánh giá là kiến thức đã Nội dung đánh giá là khả năng vận học, nặng về tính hàn lâm. dụng kiến thức đã học và kĩ năng giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra. Việc đánh giá chủ yếu thuộc về giáo Việc đánh giá được thực hiện kết viên chủ nhiệm và giáo viên phụ hợp giữa giáo viên với học sinh, học trách bộ môn đó.
sinh với học sinh và học sinh tự đánh giá chính mình. Việc chấp hành nội quy trường lớp Việc đánh giá phẩm chất của học và mức độ tích cực tham gia các hoạt sinh bên cạnh hai yếu tố kia, giáo động tập thể là hai yếu tố chính để viên còn khuyến khích học sinh thể đánh giá ý thức, nề nếp của học sinh. hiện quan điểm cá nhân. Điểm khác biệt giữa đánh giá tiếp cận nội dung và đánh giá tiếp cận năng lực Trong Chương trình Giáo dục phổ thông môn Ngữ văn 2006, nội dung kiểm tra, đánh giá được thực hiện như sau: Có hai phương thức để đánh giá kết quả học tập của học sinh đó là: đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì.
Trong đó, đánh giá thường xuyên được thực hiện trong từng tiết học, từng bài học, từng chương, từng chuyên đề; đánh giá định kì được thực hiện vào giữa và cuối học kì, cuối năm học, cuối cấp học. Việc đánh giá chất lượng hiệu quả kĩ năng đọc hiểu văn bản nói riêng và môn Ngữ văn nói chung cần dựa trên chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ chương trình môn học. Từ đó, giáo viên xây dựng đề kiểm tra phù hợp với yêu cầu của kĩ năng đọc hiểu văn bản và năng lực của học sinh gắn với các kĩ năng đọc, viết, nói, nghe. 13 Định hướng đổi mới cách đánh giá được thể hiện trên ba phương diện chính là đổi mới mục đích đánh giá, đa dạng hóa công cụ đánh giá và đổi mới chủ thể đánh giá.
“Đổi mới mục đích đánh giá là việc đánh giá kết quả học tập Ngữ văn không chỉ nhằm phân loại học lực của học sinh mà còn nhằm cung cấp thông tin phản hồi về quá trình dạy học để giáo viên, các cán bộ quản lí giáo dục điều chỉnh nội dung chương trình và sách giáo khoa, thiết bị dạy học, phương pháp dạy học,. Đa dạng hoá công cụ đánh giá là chương trình kết hợp các biện pháp đánh giá bằng bài tự luận, bài trắc nghiệm khách quan và bằng quan sát của giáo viên, nhằm đảm bảo độ chính xác, tin cậy của hoạt động đánh giá. Đổi mới chủ thể đánh giá thể hiện qua việc chủ thể đánh giá không chỉ là giáo viên mà còn là học sinh. Học sinh tự đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn, để hoàn thành một chu trình học tập mang tính tự học.
Giáo viên giúp học sinh hiểu tiêu chuẩn đánh giá để có thể tự đánh giá.” [2, 49] Hướng dẫn thực hiện đánh giá, việc đánh giá thường xuyên được thực hiện sau mỗi bài học, phần học bằng kiểm tra vấn đáp hoặc kiểm tra viết do giáo viên trực tiếp thực hiện trong giờ học ở tất cả các lớp. Việc đánh giá theo quy định chung ở cấp Tiểu học được tiến hành như sau: “Trong mỗi năm học, học sinh tham dự bốn kì kiểm tra: giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II, cuối học kì II. Trong mỗi kì kiểm tra, học sinh được đánh giá kĩ năng đọc (bao gồm cả đọc thành tiếng và đọc hiểu), kĩ năng viết (bao gồm tập viết và viết chính tả đối với học sinh lớp 1; viết chính tả và viết đoạn văn đối với học sinh lớp 2, 3; viết đoạn văn, viết văn bản đối với học sinh lớp 4, 5), kiến thức về từ và câu tiếng Việt (chỉ đánh giá kiến thức đối với học sinh các lớp 2, 3, 4, 5.” [2, 49-50] Phương pháp kiểm tra, đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 tiếp tục kế thừa những ưu điểm, điểm 14 mạnh của Chương trình Giáo dục phổ thông 2006 và có những định hướng đổi mới nhằm phát triển năng lực của học sinh.