Chương I: Mở dau — Giới thiệu lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài, nội dung nghiên cứu của dé tài và bố cục của luận văn. Chương II: Cơ sở lý thuyết — Giới thiệu về phạm vi của nghiên cứu, các co sở lý thuyết liên quan đến nghiên cứu, các công trình nghiên cứu liên quan đến CSEs. Nhận diện sơ bộ các CSFs có khả năng ảnh hưởng đến sự thành công của một IS làm cơ sở cho bước nghiên cứu tiếp theo. Chương III: Phương pháp nghiên cứu — Trinh bày Phương pháp nghiên cứu, phương pháp thu thập và đánh giá số liệu.
Chương IV: Giới thiệu vé hệ thống CMIS tại EVN SPC - Giới thiệu Hệ thống thông tin quản lý khách hàng (CMIS) tại EVN SPC và những đặc điểm khi xây dựng CMIS cũng như định hướng về lựa chọn mẫu để khảo sát. Chương V: Kết quả nghiên cứu — Trình bày kết quả thu thập và phân tích các số liệu khảo sát từ đó xếp hạng mức độ quan trọng của các CSFs. LUẬN VĂN THẠC SĨ Sứ dung AHP dé xếp hạng các CSF trong quá trình triển khai IS mức tô chức: Một tình huống tại EVN SPC. Trang 4 Chương VI: Kết luận và hướng phát triển của dé tài — Nhận định về kết quả nghiên cứu, nêu những hạn chê và đê xuât hướng nghiên cứu tiêp theo.
LUẬN VĂN THẠC SĨ Sứ dung AHP dé xếp hạng các CSF trong quá trình triển khai IS mức tô chức: Một tình huống tại EVN SPC. Trang 5 CHUONG II: COSOLY THUYET. Chương này trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu. Trong đó, dé tài xác định đối tượng của nghiên cứu này là hệ thong thông tin quản lý khách hàng, một dạng MIS được triển khai bằng nguôn lực của EVN SPC.
Ngoài ra, chương này cũng xác định sẽ sử dụng CSFs trong triển khai ERP dé nghiên cứu cho CMIS. Trong chương này cũng sẽ trình bày về mô hình được chọn dé đánh gid sự thành công của CMIS và các công trình nghiên cứu về CSFs từ đó xác định mô hình được chọn dé nghiên cứu. Khai niệm và vai trò của Hệ thống thông tin. O’Brien (2002) định nghĩa Hệ thống thông tin (IS) như sau: Hệ thống thông tin sử dụng các nguồn lực con người, phan cứng, phần mềm, dữ liệu và hệ thống mang dé hình thành dữ liệu đầu vào, các quá trình, dữ liệu đầu ra, hệ thống lưu trữ dự liệu và hệ thống điều khiển các hoạt động của tô chức.
Các thành phan của một hệ thống thông tin gồm: nguồn lực về con người, nguồn lực phan cung, nguon luc phan mém, nguồn lực dữ liệu và nguồn lực về hệ thống mang (O’Brien, 2002). Mối quan hệ giữa các nguồn lực này thé hiện như hình vẽ sau: LUẬN VĂN THẠC SĨ Sứ dung AHP dé xếp hạng các CSF trong quá trình triển khai IS mức tô chức: Một tình huống tại EVN SPC. Trang 6 = Hỗ trợ hoạch định chiến lược. = Hỗ trợ trong việc quản lý và ra quyết định.
= Hỗ trợ điều hành sản xuất Dựa trên mục đích hỗ trợ của IS, O’Brien (2002) chia IS 02 loại: = Hệ thống hỗ trợ công tác điều hành sản xuất (Operations support systems). = Hệ thống hỗ trợ công tác quản ly (Management support systems). LUẬN VĂN THẠC SĨ Sứ dung AHP dé xếp hạng các CSF trong quá trình triển khai IS mức tô chức: Một tình huống tại EVN SPC. Trang 7 Trong một số nghiên cứu, mô hình hình tháp 4 cấp được sử dụng dé phân loại IS dựa trên đối tượng sử dụng.
Giám đốc điều Hệ thông ` thông tin hành A bà điêu hành Nhà quản trị Hệ hồ trợ ra Cap cao quyết định Nhà quản tri Hệ thông thông cấp trung tin quản lý PE TT TTLTTTA Công nhân Hệ hồ trợ xử lý giao dịch ee ee area SeaTac 552125020107017E2115 525538. Hình 3: Phân loại Hệ thống thông tin dựa trên đối tượng sử dụng. Trong các cách phân loại đã nêu, Hệ thống thống tin quản lý (Management Information Systems - MIS) luôn được xem là một dạng IS quan trọng. LUẬN VĂN THẠC SĨ Sứ dung AHP dé xếp hạng các CSF trong quá trình triển khai IS mức tô chức: Một tình huống tại EVN SPC.
Trang 8 MIS là một hệ thống kết hop, là một hệ giao tiếp người - máy giúp cung cấp các thông tin hỗ trợ nhà quản lý trong việc thực hiện chức năng ra quyết định trong tô chức (Davis and Olsen, 1985). Trong khái niệm quản tri hiện đại, thông tin có vai trò hết sức quan trọng, không có thông tin mọi thứ sẽ ngưng trệ. Có thé nói rằng thông tin là nguồn lực cần thiết để phát triển các nguồn lực khác. Phát triển và ứng dụng Hệ thống thông tin quản lý (MIS) sẽ giúp việc lập kế hoạch tốt hơn, ra quyết định chính xác hơn và hiệu quả công việc cao hơn.
Hệ thống thông tin được dé cập trong nghiên cứu này là một dạng hệ thong thông tin quan lý (MIS). Cụ thé là Hệ thống thông tin quản lý khách hàng (Customer Management Information System — CMIS) 2. Hệ hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning - ERP) Lý thuyết về ERP được phát triển từ những năm 1990. Theo Green Beacon Solutions (2013), ERP là một hệ thống tích hợp thông tin bên trong và bên ngoài của một doanh nghiệp thông qua một giải pháp nhằm quản lý các chức năng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Quản lý tài chánh Hình 4: So đồ cau trúc ERP (Green Beacon Solutions, 2013) LUẬN VAN THẠC SĨ Sứ dung AHP dé xếp hạng các CSF trong quá trình triển khai IS mức tô chức: Một tình huống tại EVN SPC.
Trang 9 Theo Kumar & Hillegersberg (2000), ERP có thé được hiểu là một hệ thống của các gói IS có khả năng cấu hình, các gói IS này tích hợp thông tin và quy trình nghiệp vụ cho tất cả các hoạt động của tô chức. Nói cách khác, ERP là cũng là một dạng hệ thống thông tin (IS). Trong nghiên cứu này, các yếu tô có ảnh hưởng quan trọng đến việc triển khai thành công ERP sẽ được sử dụng dé nghiên cứu cho quá trình triển khai cua CMIS. Triển khai dự án IS Quản lý dự án là ngành khoa học nghiên cứu về việc lập kế hoạch, tô chức va quan lý, giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoan thành đúng thời gian, trong phạm vi ngân sách đã được duyệt, dam bảo chất lượng, đạt được mục tiêu cụ thể của dự án và các mục đích đề ra.
Mục tiêu cơ bản của việc quản lý dự án thể hiện ở chỗ các công việc phải được hoàn thành theo yêu cầu và bảo đảm chất lượng, trong phạm vi chi phí được duyệt, đúng thời gian và giữ cho phạm vi dự án không thay đổi (Wikipedia, 2014). Trong lý thuyết về quản lý dự án, khái niệm tam giác dự án là một tam giác ma ba cạnh thé hiện ba yếu tổ khống chế của dự án 1a: — Chất lượng công việc (bao gồm cho cả khối lượng và các yêu cầu kỹ thuật), — Thời gian hoàn thành (tiễn độ thực hiện) và — Ngân sách dé ra mức vốn dau tư). Đảm bảo được sự cân đối giữa ba yếu tố này dé tam giác không bị hở ở bat kỳ góc nào chính là thể hiện chất lượng, thành quả của công tác quản lý dự án. Vì vậy, người ta còn gọi đây là tam giác chất lượng.
Hình 5: Tam giác dự án (Brukar Inc, 2013) LUẬN VĂN THẠC SĨ Sứ dung AHP dé xếp hạng các CSF trong quá trình triển khai IS mức tô chức: Một tình huống tại EVN SPC. Trang 10 Theo Hamilton Setende (2012), khi mong muốn triển khai một dự án phần mềm, doanh nghiệp có 2 hướng dé lựa chon là: sử dung các gói phần mềm thương mại hiện có hoặc tự xây dựng phan mém bằng nguồn lực của doanh nghiệp. JS được khảo sát trong nghiên cứu này là một hệ thống được triển khai bằng nguon lực của doanh nghiệp Zainal Arifin & Gede Rasben (2012), chia quá trình triển khai một dự án ERP thành 3 giai đoạn Trước triển khai, triển khai và sau triển khai (Pre-Implementation, Implementation và Post- Implementation). Nghia là, bat đầu từ giai đoạn lập kế hoạch lựa chọn giải ERP đến lúc triển khai giải pháp và duy trì vận hành ERP sau khi triển khai.
Trong nghiên cứu này quá trình triển khai dự dn CMIS được xem xét ở cả 3 giai đoạn như đã nêu ở trên. Các thành viên tham gia khảo sát là những người có nhiều kinh nghiệm và từng tham gia vào quá trình triển khai CMIS, họ sẽ cung cấp các dữ kiện quá khứ về quả trình triển khai hệ thống này dong thời cũng cung cấp những nhán định của họ về hệ thông. CSFs và mo hình đánh giá sự thành công của IS. Theo Bradley (2008) nghiên cứu về các yếu tố quan trọng dẫn đến thành công (CSFs) là một van dé căn bản trong lý thuyết quản lý.
Theo Bullen and Rockart (1981, được trích dẫn bởi Bradley, 2008), CSFs là một số yếu tô mẫu chốt và tuyệt đói cần thiết dé nha quản lý đạt được mục đích của mình. Nói cách khác, nhận diện được CSFs trong triển khai IS là điều kiện cần để triển khai một IS thành công. Bradley (2008) đưa ra mô hình đánh giá sự thành công của ERP đựa trên 3 yếu tố: Cải tiễn hoạt động của tô chức, Chi phí và thời gian thực hiện. Hình 6: Mô hình đánh giá sự thành công của ERP (Bradley, 2008) LUẬN VĂN THẠC SĨ Sứ dung AHP dé xếp hạng các CSF trong quá trình triển khai IS mức tô chức: Một tình huống tại EVN SPC.
Trang 11 Tuy nhiên, qua khảo sat so bộ các thành viên trong tổ chức, việc triển khai CMIS do EVN SPC tự tổ chức thực hiện. Do đặc thù nay, van dé chi phí không được lãnh đạo đặt ra trong quá trình triển khai CMIS. Do đó, trong nghiên cứu này người nghiên cứu sẽ thực hiện hiện đánh giá sự thành công của CMIS dựa được trên mô hình do Delone và Mclean đưa ra vào năm 2003. Hình 7: Mô hình đánh giá sự thành công của IS (Delone & Mclean, 2003) Đây là mô hình được Delone va Mclean cải tiến từ mô hình năm 1992.
Theo mô hình này, sự thành công của hệ thống thông tin có thêm thước đo về chất lượng dịch vu (service quality), đây là sự hỗ trợ từ phía nhà cung cấp hệ thống thông tin trong việc bảo trì hệ thống, hướng dẫn người dùng cách sử dụng, xử lý sự cô phát sinh.