CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dịch tễ sốt xuất huyết Dengue: SXHD là bệnh virus truyền qua động vật chân khớp rất quan trọng, và nó gây ra một gánh nặng lớn cho cộng đồng và hệ thống sức khỏe ở hầu hết các nước nhiệt đới. Tỷ lệ mặc bệnh đã tăng đáng kể trong suốt 50 năm qua (gấp 30 lần) đối với cả 4 types huyết thanh (DENV1-4) ở hơn 100 nước, bao gồm những quốc gia ở Đông Nam Á, Trung và Nam Mỹ, Tây Thái Bình Dương, Châu Phi và Đông Địa Trung Hải [49]. Một báo cáo trước đây đã ước tính rằng 390 triệu người bị nhiễm virus Dengue mỗi năm trên toàn thế giới, trong đó có 96 triệu người có biểu hiện lâm sàng của bênh SXHD[38].
Biểu hiện lâm sàng từ sốt cấp tính đến sốt xuất huyết nặng là một điều kiện đe dọa tính mạng. Trong một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ tử vong khi nhập viện quan sát trong số 1,6 – 10,9 % bệnh nhân có biểu hiện nặng của sốt xuất huyết, bao gồm sốt xuất huyết Dengue hoặc hội chứng sốc Dengue[25], [49]. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã thực hiện mục tiêu giảm ít nhất 20% tỷ lệ tử vong do sốt xuất huyết Dengue và 25% tỷ lệ mắc bênh vào năm 2020 [37]. Tại Việt Nam, cũng như hàng năm, số ca mắc sốt xuất huyết bắt đầu gia tăng từ tuần 30 và tăng cao từ tuần 35.
Trong báo cáo của Cục Y tế dự phòng – Bộ Y tế, trong 8 tháng đầu năm 2020, cả nước ghi nhận trên 65.000 trường hợp mắc, 7 ca tử vong, giảm 65,6% so với cùng kỳ năm 2019. Tử vong giảm 32 trường hợp (giảm 82%) là 0,01%, thấp nhất trong 10 năm qua và thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực (Philipines 0,36%, Malaysia 0,16%, Lào 0,22%)[2]. 1Biểu đồ số mắc, tử vong do sốt xuất huyết giai đoạn 1980 -2020 tại Việt Nam [4]. Trong tháng 10/2020 số ca mắc sốt xuất huyết có xu hướng tăng tại Việt Nam, số ca mắc tập trung chủ yết ở một số tỉnh miền Trung, miền Nam như: Bến Tre, Bình Định, Bình Dương, Đồng Nai, Gia Lai, Khánh Hòa, Bình Thuận, Kon Tum, Long An, Phú Yên, Quảng Bình, Tây Ning, Tiền Giang, TP.HCM và Hà Nội [1].
Bệnh lý sốt xuất huyết Dengue: 1. Định nghĩa về sốt xuất huyết Dengue: Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm gây dịch do virus Dengue gây nên. Virus Dengue có 4 type huyết thanh là DENV-1, DENV-2, DENV-3 và DENV-4. Virus truyền từ người bệnh sang người lành do muỗi đốt.
Muỗi Aedes aegypti là côn trùng trung gian truyền bệnh chủ yếu. Bệnh xảy ra quanh năm, thường gia tăng vào mùa mưa. Bệnh gặp ở cả trẻ em và người lớn. Đặc biệt sốt xuất huyết Dengue là sốt, xuất huyết và thoát.
6 huyết tương, có thể dẫn đến sốc giảm thể tích tuần hoàn, rối loạn đông máu, suy tạng, nếu không được chẩn đoán sớm và xử lý kịp thời dễ dẫn đến tử vong. Chẩn đoán sốt xuất huyết Dengue: Bệnh sốt xuất huyết Dengue được chia làm 3 mức độ (theo tổ chức Y tế thế giới năm 2009) gồm: sốt xuất huyết Dengue, sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo, sốt xuất huyêt Dengue nặng. Trong chẩn đoán căn nguyên virus Dengue, xét nghiệm huyết thanh gồm xét nghiệm nhanh tìm kháng nguyên NS1, xét nghiệm miễn dịch Elisa tìm kháng thể IgM, IgG ngày thứ 5 của bệnh. Bên cạnh đó xét nghiệm PCR phát hiện RNA virus cũng góp phần trong việc chẩn đoán tìm căn nguyên virus.
Các giai đoạn sốt xuất huyết Dengue: Bệnh sốt xuất huyết Dengue có biểu hiện lâm sàng đa dạng, biểu hiện nhanh chóng từ nhẹ đến nặng. Bệnh thường khởi phát đột ngột và diễn biến qua 3 giai đoạn: giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục. Phát hiện sớm và hiểu rõ những vấn đề lâm sàng trong từng giai đoạn của bệnh nhằm giúp chẩn đoán sớm, điều trị đúng và kịp thời, nhằm cứu sống người bệnh. Trong giai đoạn sốt các chỉ số cận lâm sàng cần chú ý Hematocrit (Hct) bình thường, số lượng tiểu cầu bình thường hoặc giảm, số lượng bạch cầu bình thường.
Trong giai đoạn nguy hiểm thường vào ngày thứ 3-7 của bệnh, bệnh nhân có dấu hiệu tổn thương gan nặng hoặc suy gan cấp, men gan AST, ALT ≥ 1000 U/L, tổn thương hoặc suy thận cấp, rối loạn tri giác, viêm cơ tim, suy tim hoặc suy chức năng các cơ quan khác [10]. Các biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng của sốt xuất huyết Dengue: Bệnh sốt xuất huyết Dengue có biểu hiện lâm sàng đa dạng, diễn biến nhanh chóng từ nhẹ đến nặng. Bệnh thường khởi phát đột ngột và diễn biến qua ba giai đoạn: giai đoạn sốt, giai đoạn nguy hiểm và giai đoạn hồi phục. Phát hiện sớm bệnh và hiểu rõ những vấn đề lâm sàng trong từng giai đoạn của bệnh giúp chẩn đoán sớm, điều trị đúng và kịp thời, nhằm cứu sống người bệnh [10].
Giai đoạn sốt: 1. Lâm sàng - Sốt cao đột ngột, liên tục. - Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn. - Da xung huyết.
- Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt. - Nghiệm pháp dây thắt dương tính. - Thường có chấm xuất huyết ở dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu mũi. Cận lâm sàng - Hematocrit (Hct) bình thường.
- Số lượng tiểu cầu bình thường hoặc giảm dần (nhưng còn trên 100. - Số lượng bạch cầu thường giảm. Giai đoạn nguy hiểm: Thường vào ngày thứ 3-7 của bệnh: 1. Lâm sàng Người bệnh có thể còn sốt hoặc đã giảm sốt.
Có thể có các biểu hiện sau:. 8 - Đau bụng nhiều: đau bụng nhiều và liên tục hoặc tăng cảm giác đau nhất là ở vùng gan. - Vật vã, lừ đừ, li bì. - Gan to > 2cm dưới bờ sườn, có thể đau.
- Biểu hiện thoát huyết tương do tăng tính thấm thành mạch (thường kéo dài 24-48 giờ). • Tràn dịch màng phổi, mô kẽ (có thể gây suy hô hấp), màng bụng, phù nề mi mắt. • Nếu thoát huyết tương nhiều sẽ dẫn đến sốc với các biểu hiện vật vã, bứt rứt hoặc li bì, lạnh đầu chi, mạch nhanh nhỏ, huyết áp kẹt (hiệu số huyết áp tối đa và tối thiểu ≤ 20mmHg hoặc tụt huyết áp, không đo được huyết áp, mạch không bắt được, da lạnh, nổi vân tím (sốc nặng), tiểu ít. • Xuất huyết dưới da: Nốt xuất huyết rải rác hoặc chấm xuất huyết thường ở mặt trước hai cẳng chân và mặt trong hai cánh tay, bụng, đùi, mạn sườn hoặc mảng bầm tím.
• Xuất huyết niêm mạc như chảy máu chân răng, chảy máu mũi, nôn ra máu, tiêu phân đen hoặc máu, xuất huyết âm đạo hoặc tiểu máu. • Xuất huyết nặng: chảy máu mũi nặng (cần nhét bông hoặc gạc cầm máu), xuất huyết âm đạo nặng, xuất huyết trong cơ và phần mềm, xuất huyết đường tiêu hóa và nội tạng (phổi, não, gan, lách, thận), thường kèm theo tình trạng sốc, giảm tiểu cầu, thiếu oxy mô và toan chuyển hóa có thể dẫn đến suy đa phủ tạng và đông máu nội mạch nặng. Xuất huyết nặng cũng có thể xảy ra ở người bệnh dùng các thuốc kháng viêm như acetylsalicylic acid (aspirin), ibuprofen hoặc dùng corticoid, tiền sử loét dạ dày-tá tràng, viêm gan mạn. 9 - Một số trường hợp nặng có thể có biểu hiện suy tạng như tổn thương gan nặng/suy gan, thận, tim, phổi, não.
Những biểu hiện nặng này có thể xảy ra ở người bệnh có hoặc không có sốc do thoát huyết tương. • Tổn thương gan nặng/suy gan cấp, men gan AST, ALT ≥ 1000U/L. • Tổn thương/suy thận cấp. • Rối loạn tri giác (sốt xuất huyết Dengue thể não).
• Viêm cơ tim, suy tim, hoặc suy chức năng các cơ quan khác. Cận lâm sàng - Cô đặc máu khi Hematocrit tăng >20% so với giá trị ban đầu của người bệnh hoặc so với giá trị trung bình của dân số ở cùng lứa tuổi. - Ví dụ: Hct ban đầu là 35%, SXHD có tình trạng cô đặc máu khi Hct hiện tại đo được là 42% (tăng 20% so với ban đầu). - Số lượng tiểu cầu giảm (<100.000/mm3) - AST, ALT thường tăng.
- Trường hợp nặng có thể có rối loạn đông máu. - Siêu âm hoặc X quang có thể phát hiện tràn dịch màng bụng, màng phổi. Giai đoạn hồi phục: Thường vào ngày thứ 7-10 của bệnh: 1. Lâm sàng - Người bệnh hết sốt, toàn trạng tốt lên, thèm ăn, huyết động ổn định và tiểu nhiều.
- Có thể phát ban hồi phục hoặc ngứa ngoài da. - Có thể có nhịp tim chậm, không đều, có thể có suy hô hấp do quá tải dịch truyền. Cận lâm sàng - Hematocrit trở về bình thường hoặc có thể thấp hơn do hiện tượng pha loãng máu khi dịch được tái hấp thu trở lại. 10 - Số lượng bạch cầu máu thường tăng lên sớm sau giai đoạn hạ sốt.
- Số lượng tiểu cầu dần trở về bình thường, muộn hơn so với số lượng bạch cầu. - AST, ALT có khuynh hướng giảm. Phân loại mức độ bệnh: Để đánh giá và tiên lượng bệnh nhân được chính xác, tổ chức Y tế Thế giới năm 2009 cũng như Bộ Y tế Việt Nam năm 2011 đã đưa ra mức phân loại bệnh SXHD như sau [10], [37]: - Sốt xuất huyết Dengue. - Sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo.
- Sốt xuất huyết Dengue nặng. Sốt xuất huyết Dengue: Bệnh nhân có biểu hiện sốt cao đột ngột, liên tục từ 2 – 7 ngày và có ít nhất 2 trong các dấu hiệu sau: 1) Biểu hiện xuất huyết có thể như nghiệm pháp dây thắt dương tính, chấm xuất huyết dưới da, chảy máu chân răng hoặc chảy máu cam. 2) Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn. 3) Da xung huyết, phát ban.
4) Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt [10], [37]. Xét nghiệm: DTHC bình thường ( không có biểu hiện cô đặc máu) hoặc tăng. Số lượng tiểu cầu bình thường hoặc hơi giảm. Số lượng bạch cầu thường giảm [10], [37].
Sốt xuất huyết Dengue có dấu hiệu cảnh báo: Bao gồm các triệu chứng lâm sàng của SXHD, kèm theo các dấu hiệu cảnh báo sau: vật vã, lừ đừ, li bì, đau bụng vùng gan hoặc ấn đau vùng gan; gan to >2cm; nôn nhiều; xuất huyết niêm mạc; tiểu ít; xét nghiệm máu: DTHC tăng cao, tiểu cầu giảm nhanh chóng [10], [37]. Sốt xuất huyết Dengue nặng:. 11 Khi người bệnh có một trong các biểu hiện sau: 1) Thoát huyết tương nặng dẫn đến sốc giảm thể tích ( sốc SXHD), ứ dịch trong khoang màng phổi và ổ bụng nhiều. 2) Xuất huyết nặng.