MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của kinh tế thị trường, những hệ quả mà nó mang lại đang ngày một biểu hiện rõ nét ra trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Các nhà nghiên cứu nhận ra rằng, muốn xã hội phát triển một cách bền vững thì những lĩnh vực như văn hóa, đời sống tinh thần của con người không thể bị bỏ quên. Chính thực tiễn này đã đặt ra nhu cầu nghiên cứu, kế thừa và phát triển các tư tưởng triết học phương Tây hiện đại về con người, văn hóa và xã hội.
Trong đó, việc nghiên cứu, đánh giá lại một cách khách quan học thuyết Freud và những cống hiến của nó là cần thiết. Điều này được thé hiện qua một số nguyên nhân chính sau: Thứ nhất, về xu hướng triết học phi duy lý. Vào những năm cuối thé ki XIX, đầu thế ki XX ở châu Âu xuất hiện một trào lưu triết học mới với tên gọi trào lưu triết học đời sống. Sở đĩ có tên gọi như vậy là bởi các triết gia này đều hướng học thuyết của họ về nghiên cứu các lĩnh vực của đời sống, đặc biệt là đời sống tâm lý, tình cảm của các cá nhân trong xã hội.
Trong bối cảnh châu Âu đương thời với sự thống trị của chủ nghĩa duy lý máy móc siêu hình, tuyệt đối hóa vai trò của lý tính, điều mà đã trực tiếp dẫn đến sự tha hóa rộng rãi trong đời sống đạo đức xã hội với những biểu hiện như lối sống thực dụng hay tư tưởng tuyệt đối hóa vai trò của khoa học kĩ thuật và những giá trị vật chất do nó mang lại, thói đạo đức giả,v. thì sự xuất hiện của trào lưu triết học đời sống mang một ý nghĩa nhân văn không thé phủ nhận được khi đi sâu vào khai thác đời sống nội tâm của con người cá nhân , một “mảnh đất” hầu như còn dé ngỏ trong lịch sử tư tưởng triết học trước đó. Với những giá trị kế trên, chủ nghĩa Phi duy lý đã ngày càng phát triển mạnh mẽ và có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội đặc biệt là từ thé ki XX. Trong các trào lưu triết học phi duy lynay, phải kê đến chủ nghĩa Freud.
Thứ hai, về học thuyết vô thức và tác giả. Chủ nghĩa Freud được lấy theo tên người sáng lập ra nó là bác sĩ tâm thần người Ao Sigmund Freud. Lay lý thuyết về “vô thức” và sự đè nén bản năng làm trung tâm để giải thích các vấn đề đạo đức- xã hội. Ngay từ khi xuất hiện, học thuyết này đã tạo ra một bước ngoặt to lớn không chỉ trong lĩnh vực tâm lý học mà cả trong lĩnh vực triết học.
Lần đầu tiên trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, vấn đề bản năng của con người được đưa ra không phải như một thứ xấu xa, đáng khinh bỉ, mà là đối tượng nghiên cứu trung tâm, là nền tảng lý luận để giải thích mọi hiện tượng xã hội. Ban đầu, những tư tưởng của Freud được cho là quá mới mẻ, và vì thế ít nhận được sự đồng cảm trong đại bộ phận giới nghiên cứu, thậm chí phải chịu sự đả kích, phê phán ở nhiều nơi. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, với sự hình thành lối tư duy ngày một cởi mở, phóng khoáng và đặc biệt là với những thành tựu to lớn mà Freud đạt được trên thực tiễn lĩnh vực tâm lý học cũng như trong giải quyết các van đề thực tiễn xã hội đặt ra, các học thuyết của ông ngày càng có chỗ đứng và được đánh giá lại một cách khách quan, toàn diện hơn. Nhiều nhà nghiên cứu đã bắt đầu chấp nhận tư tưởng của ông, đưa nó vào trong quá trình xây dựng học thuyết của mình, thậm chí, nhiều người còn cố cải tạo triết học Freud bằng cách kết hợp nó với triết học Marx, một học thuyết được xem là đối lập ở chỗ dé cao mặt xã hội của con người trong khi triết học Freud lại chú trọng đến bản năng và tâm lý cá nhân.
Thứ ba, sự ảnh hưởng của học thuyết vô thức của Freud đến Việt Nam. Ở Việt Nam, triết học Freud cũng đang được nhìn nhận và đánh giá lại một cách khách quan- toàn diện hơn. Vô thức và tâm lý cá nhân được xem như một lĩnh vực quan trọng của triết học và nghiên cứu học thuyết “vô thức” của Freud là cần thiết dé góp phần bổ sung và hoàn thiện hơn nữa quan điểm triết học về con người, về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội. Thứ tư, nghiên cứu học thuyết vô thức của Freud chúng ta không thé không đề cập đến những luận giải về giấc mơ được ông trình bày chủ yếu trong các bài viết về giác mơ và tác pham “Ly giải giác mơ”.
Bởi theo Freud, giấc mơ chính là một trong hai biểu hiện tiêu biểu nhất, là minh chứng trực tiếp nhất cho sự tồn tại của “cõi vô thức” trong tâm lý mỗi cá nhân. Tóm lại, học thuyết về vô thức của Freud là một phát minh khoa học có giá tri to lớn không chỉ trong việc nghiên cứu tâm lý cá nhân mà con trong việc vận dụng nghiên cứu các vấn đề đạo đức, xã hội. Việc đưa ra những đánh giá khách quan và toàn điện hơn về học thuyết này với tư cách một học thuyết có giá tri trong lịch sử triết học nhân loại là thực sự cần thiết. Vì những lý do trên, tôi chọn chủ đề: “7T tuéng của Sigmund Freud về vô thức trong tác phẩm ‘Ly giải giấc mơ”” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài Học thuyết “Vô thức” của Freud từ khi ra đời đã là một đề tài gây tranh cãi mạnh mẽ, cho đến ngày nay, sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đối với học thuyết này chỉ có tăng chứ không hề giảm. Nhiều tác pham và công trình nghiên cứu về tư tưởng của Freud đã lần lượt ra đời, trong đó đáng chú ý là một số công trình sau: Thứ nhất, nhóm công trình nghiên cứu tư tưởng triết học của Freud với tư cách một trào lưu triết học độc lập của phương Tây hiện đại, trong mối tương quan với thời đại và với những học thuyết đi trước gồm có: Tác phẩm “Một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại” của Nguyễn Hào Hải đã trình bày một cách cô đọng nhất về bối cảnh lịch sử xã hội là tiền đề cho sự ra đời của học thuyết “Vô thức” và những nội dung chính của học thuyết này. Trong cuốn giáo trình “Triết học Phương Tây hiện đại” do Nguyễn Vũ Hảo chủ biên, nhóm tác giả đã nêu ra những tư tưởng triết học cơ bản trong phân tâm học của Sigmund Freud, dù sự tồn tại của những tư tưởng này luôn bị chính Freud phủ nhận. Cuốn “Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó” do Phạm Văn Đức làm chủ biên, đã nghiên cứu những vấn đề chung của triết học Áo, triết học Freud và những ảnh hưởng của triết học Freud.
Trong cuốn “Triết học Phương Tây hiện đại” của Lưu Phóng Đồng do Lê Khánh Tường dịch, học thuyết về vô thức được tác giả tiếp cận với tư cách một trong “hai phát hiện lớn của chủ nghĩa Freud sơ kỳ” và được đánh giá một cách khách quan về cả nội dung tư tưởng lẫn ý nghĩa của học thuyết đối với thời đại. Nghiên cứu về Vô thức với vai trò yếu tố trọng tâm trong tư tưởng triết học Freud, tác giả đã chỉ ra những đặc tính của Vô thức như “tính nguyên thủy”, “tính chủ động”, “tính phi dao đức”, “tính phi ngôn ngữ”,. [Xem 12] Thứ hai, nhóm các công trình chuyên khảo về tư tưởng của Freud. Trong đó, cần phải kế đến một số công trình như: Công trình “Nhân học triết học Freud và ảnh hưởng của nó tới nhân học triết học phương Tây hiện đại” do Đỗ Minh Hợp chủ biên nghiên cứu chuyên sâu về các tư tưởng triết học của Freud, đặc biệt là vấn đề con người trong tư tưởng triết học của ông.
Trong đó, các tư tưởng về vô thức đóng vai trò hết sức quan trọng, bởi đối với Freud, vô thức được xem như đối tượng nghiên cứu chính trong quá trình đi tìm bản chất con người [Xem 33, tr. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đã chỉ ra được nội dung triết học trong học thuyết Phân tâm học của Freud. Cụ thé, theo đó yếu tô ban thé trong học thuyết Phan tâm học là Vô thức: “Freud thực sự thừa nhận vị thế bản thể đặc thù của vô thức” [33, tr. Bên cạnh đó, nghiên cứu vô thức cũng được coi là yếu tố quan trọng trong quan điểm về quá trình nhận thức của Freud, “Mỗi hành vi tâm thần, mỗi quá trình vô thức đều có nghĩa xác định, bao hàm những quan hệ về nghĩa, việc làm sáng tỏ chúng là nhiệm vụ quan trọng của nhân học phân tâm” [33, tr.
Tác phẩm “Freud đã thực sự nói gì” của David Stanfford. Trong tác phẩm này, một loạt các khái niệm cơ bản của Phân tâm học như : Vô thức, sự dồn nén,. đã được tác giả hệ thống hóa và trình bày lại. Với mục tiêu hệ thống hóa và đi tìm bản chất những quan điểm của Freud, tác giả David Stanfford đã đi khảo cứu lại những tiền đề về khoa học, tư tưởng cho sự ra đời của học thuyết Phân tâm học: “Trong sự phát triển lý luận bản năng của Freud,tién hóa luận và di truyền học đã có ảnh hưởng rất lớn đối với ông.
Thời thanh niên, Phrớt chịu ảnh hưởng sâu sắc của Đacuyn, khi học ở Đại học Viên, rất thích thú với sinh vật học. Ông thường nghe giáo sư giảng về sinh vật học, sinh lý học, thần kinh học, do đó đã xây dựng được cơ sở sinh vật học vững chắc cho nghiên cứu tâm lý học sau này. Ngoài ra, di truyền học đã nói rõ cơ thể bản năng hoặc cơ sở của thể xác là khuynh hướng có tính điển hình cho một hành động nhất định”[5, tr. Bàn về tác phẩm “Lý giải giấc mơ”, tác giả đã trích dẫn lại lời của Freud trong lời tựa của lần xuất bản Tiếng Anh "Tác phẩm này, mà sự đóng góp mới mẻ của nó vào tâm lý học đã từng làm mọi người kinh ngạc lúc công bố nó (1900), về căn bản vẫn giữ nguyên.
Ngay cả hiện nay, tôi vẫn cho răng nó chứa đựng những cái có giá trị nhất trong tat cả những phát hiện mà tôi có may man thực hiện. Một trực giác như trực giác này không thé xảy tới hai lần trong một đời người"[Dẫn theo 5, tr.