Phần mở đầu, Phần nội dung; gồm 2 chƣơng, 4 tiết và Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo. 15 Chƣơng 1 ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƢ TƢỞNG VỀ CON NGƢỜI TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI 1. ĐIỀU KIỆN XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG VỀ CON NGƢỜI TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC CỔ ĐẠI 1. Sự biến đổi về xã hội và sự băng hoại về đạo đức luân lý trong xã hội Trung Hoa thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc với sự hình thành tƣ tƣởng về con ngƣời trong triết học Trung Quốc cổ đại Là một hình thái ý thức xã hội, quá trình hình thành và phát triển của tƣ tƣởng triết học, một mặt luôn phản ánh và chịu sự quy định của đặc điểm điều kiện lịch sử xã hội; mặt khác, là sự tiếp thu, kế thừa các tƣ tƣởng triết học trƣớc đó.
Ăngghen đã nói: “Chính con ngƣời khi phát triển sản xuất vật chất và sự giao tiếp vật chất của mình đã làm biến đổi, cùng với hiện thực đó của mình, cả tƣ duy lẫn sản phẩm tƣ duy của mình, không phải ý thức quyết định đời sống mà chính đời sống quy định ý thức” [65, tr. Trong triết học Trung Quốc cổ đại, vấn đề con ngƣời đƣợc các nhà tƣ tƣởng quan tâm và trở thành một trong những vấn đề trung tâm của triết học Trung Quốc cổ đại. Đó không phải là vấn đề có tính chất ngẫu nhiên, hƣ vô hay từ ý muốn chủ quan của các nhà triết học, mà nó chính là sự phản ánh đòi hỏi của điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị xã hội và là sự kế thừa những tƣ tƣởng trƣớc đó của ngƣời Trung Hoa cổ đại. Nói cách khác, nó là sản phẩm lịch sử, xuất phát từ đặc điểm, yêu cầu của thời đại và dân tộc Trung Hoa thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc; nhƣ C.
Mác đã viết: “Các triết gia không mọc lên nhƣ nấm từ trái đất, họ là sản phẩm của thời đại mình, của dân tộc mình, mà dòng sữa tinh tế nhất, quý giá và vô hình đƣợc tập trung lại trong những tƣ tƣởng triết học. Do vậy, khi nghiên cứu về con ngƣời trong triết 16 học Trung Quốc không thể không nghiên cứu cơ sở xã hội hình thành nên nó. Nhìn một cách tổng quát nhất, có thể nói, quá trình hình thành và phát triển tƣ tƣởng về con ngƣời trong triết học Trung Quốc cổ đại xuất phát từ hai đặc điểm điều kiện xã hội chính: một là, sự biến đổi lớn lao và sâu sắc về trật tự thể chế xã hội Trung Quốc thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc; và hai là, sự băng hoại về luân lý đạo đức trong xã hội Trung Quốc thời kỳ này. Trƣớc hết là sự biến đổi của xã hội Trung Quốc thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc: Về mặt lịch sử, thời kỳ Xuân thu - Chiến quốc là thời kỳ xã hội biến chuyển từ chế độ nô lệ mà đỉnh cao là chế độ tông pháp nhà Tây Chu sang chế độ phong kiến sơ kỳ, bắt đầu từ khi Chu Bình Vƣơng dời đô về phía đông trên đất Lạc Ấp năm 780 trƣớc Công nguyên - thời kỳ trật tự lễ nghĩa, chuẩn mực luân lý đạo đức của chế độ xã hội cũ suy vi và mất dần vai trò lịch sử của nó, nhƣng trật tự thể chế, pháp luật và các chuẩn mực đạo đức của chế độ xã hội mới đang hình thành, chƣa đóng vai trò thống trị trong xã hội.
Về mặt kinh tế, đây là thời kỳ xã hội Trung Hoa có sự biến chuyển hết sức sâu sắc; chế độ “tỉnh điền” 井田 dần bị phá bỏ, chế độ sở hữu ruộng đất tƣ nhân xuất hiện, nhất là sang thời kỳ Chiến quốc. Đây là cơ sở kinh tế - xã hội cho việc hình thành giai cấp mới - giai cấp quý tộc địa chủ trong xã hội, đấu tranh chống lại địa vị, lợi ích và xoá bỏ tàn dƣ của giai cấp quý tộc cũ. Nếu thời kỳ nhà Hạ, nhà Thƣơng và đặc biệt là nhà Chu đồ đồng thau ngày càng phát triển, thì cuối Xuân thu đến đầu Chiến quốc công cụ bằng sắt đã trở thành phổ biến trong các ngành sản xuất xã hội. Điều này đã đƣợc chứng minh bằng kết quả của cuộc khảo cổ học năm 1954 ở tỉnh Hà Nam, đã phát hiện đƣợc một ngôi mộ trong đó có hơn 90 công cụ sản xuất gồm các loại cày, cuốc, xẻng, liềm, dao, búa… và hơn 70 binh khí bằng sắt thời Chiến quốc.
Cùng với sự tiến bộ về công cụ sản xuất, thời Xuân thu ngƣời trung Quốc bắt đầu sử dụng súc vật nhƣ trâu, bò, ngựa làm sức kéo. Cho nên thời Xuân thu nhiều ngƣời đặt tên chữ “canh” 耕 (cày) và chữ “ngƣu” 牛 (trâu, bò) gần nhau, 17 phản ánh một thực tế việc dùng trâu bò để cày ruộng là khá phổ biến ở thời Xuân thu - Chiến quốc. Cùng với sự phát triển công cụ, phƣơng tiện sản xuất, sự tiến bộ trong sản xuất nông nghiệp còn thể hiện ở kỹ thuật “dẫn thuỷ nhập điền”, mở mang thuỷ lợi, góp phần vào việc khẩn hoang đất đai, thay đổi thói quen và kỹ thuật canh tác. Thời Xuân thu - Chiến quốc các công trình thuỷ lợi đƣợc xây dựng ở nhiều nƣớc, từ lƣu vực Hoàng Hà tới lƣu vực Trƣờng Giang, từ biển Đông đến vùng Tứ Xuyên.
Năm 597 trƣớc Công nguyên, Tôn Thúc Ngao của nƣớc Sở chủ trì xây dựng thuỷ khố theo mô hình lớn đầu tiên của Trung Quốc. Tại nƣớc Ngô, thời Phù Sai (thế kỷ V trƣớc Công nguyên) đã đào một hệ thống kênh nối dài Trƣờng Giang với sông Hoài và nối sông Hoài với các con sông ở gần lƣu vực Hoàng Hà. Từ năm 256 trƣớc Công nguyên đến năm 251 trƣớc Công nguyên, Thái thú Lý Băng của quận Thục nƣớc Tần và con trai là Nhị Lang đã chỉ huy dân binh Tứ Xuyên xây dựng đập Đô Giang, một công trình thuỷ lợi chủ chốt của Trung Quốc cổ đại. Ngoài đập Đô Giang, thời Tần còn có kênh đào Trịnh Quốc (do một ngƣời tên là Trịnh Quốc ngƣời nƣớc Hàn thiết kế), có tác dụng dẫn nƣớc từ huyện Kinh (Thiểm Tây) vào Lạc Thuỷ, dài hơn 3000 dặm, biến 200 vạn mẫu đất chua phèn của bình nguyên Quan Trung thành đất canh tác màu mỡ, đạt sản lƣợng cao.
Nƣớc Tần nhờ đó trở nên giàu mạnh; ngoài ra còn có kênh Tây Mông Báo ở nƣớc Nguỵ, kênh Hồng, kênh Hàn ở nƣớc Tề, nƣớc Sở, không những đã đảm bảo tƣới tiêu cho đồng ruộng, hạn chế hạn hán và lũ lụt mà còn có vai trò quan trọng trong giao thông đi lại thông thƣơng từ Hoàng Hà đến Trƣờng Giang. Sự phát triển công cụ sản xuất cùng với hệ thống thuỷ lợi đã không chỉ thúc đẩy mạnh mẽ việc khẩn hoang đất đai, mở rộng diện tích canh tác mà còn phát triển nhiều loại cây trồng và cải tiến kỹ thuật canh tác nhƣ thâm canh, luân canh, tạo điều kiện tăng năng suất lao động, dẫn đến sự thay đổi sâu sắc trong quan hệ sản xuất cổ truyền ở thời kỳ Tây Chu và thời kỳ Xuân thu. 18 Trong văn giáp cốt đã thấy ghi nhiều loại ngũ cốc và cây trồng nhƣ lúa, kê, lúa mì, dâu tằm… Còn theo tính toán của Lý Khôi, nhà cải cách nƣớc Nguỵ đầu thời Chiến quốc thì mỗi mẫu ruộng trung bình mỗi năm thu hoạch đƣợc 1 thạch 5 đấu, năm đƣợc mùa có thể thu gấp bốn lần. Nếu trƣớc đây, dƣới thời Tây Chu vua chúa đƣợc coi là ngƣời thay mặt trời trị vì dân chúng trên mặt đất, nắm giữ toàn bộ của cải trong xã hội, đó là sức lao động nô lệ và ruộng đất, thì giờ đây công xã đã giao hẳn đất công cho từng gia đình nông nô cày cấy trong thời hạn lâu dài.
Do đó họ có điều kiện để chuyên canh, luân canh nhằm tăng năng suất lao động. Sự phân hoá đất công còn diễn ra mạnh mẽ một phần do các quý tộc thƣơng nhân giàu có dùng tiền mua bán ruộng đất, một phần do chƣ hầu phong cấp đất cho các công khanh, đại phu có công, và một phần khác do bọn quý tộc ỷ quyền thế chiếm làm ruộng tƣ và đất tự nhiên do đƣợc phép khẩn hoang đã trở thành đất tƣ. Chế độ “tỉnh điền” dần tan rã, chế độ tƣ hữu ruộng đất từng bƣớc hình thành, nhất là từ sau các cuộc biến pháp của Quản Trọng, Ngô Khởi, Thƣơng Ƣởng… ở các nƣớc Tề, Nguỵ, Tần, Triệu… Nó là cơ sở kinh tế - xã hội cho giai cấp quý tộc mới - quý tộc địa chủ ra đời và chiếm ƣu thế trong xã hội đƣơng thời. Theo chế độ “tỉnh điền”, ruộng đất công đƣợc chia cho các gia đình nông nô canh tác theo hình chữ “tỉnh”, có chín ô.
Tám gia đình nông nô cày cấy tám ô xung quanh, có trách nhiệm cùng canh tác ô ở giữa để thu hoa lợi nộp cho triều đình. “Đời Hạ mỗi ngƣời chủ gia đình đƣợc cấp cho năm chục mẫu ruộng, mỗi mùa phải cống nạp cho nhà vua số hoa lợi trung bình của năm chục mẫu. Đó gọi là phép cống 貢. Qua đời nhà Ân, mỗi ngƣời chủ trong gia đình đƣợc cấp cho bảy chục mẫu ruộng mà làm và hƣởng trọn hoa lợi.
Nhƣng tám gia đình phải chung sức với nhau làm khoảnh ruộng công bảy chục mẫu ở giữa. Đó gọi là phép trợ 助. Đến đời nhà Chu, mỗi gia đình đƣợc cấp một trăm mẫu ruộng và cũng làm mà hƣởng hoa lợi. Nhƣng tám gia đình phải chung sức với nhau làm mảnh ruộng một trăm mẫu ở giữa để nộp hoa lợi cho nhà nƣớc.
Đó gọi là phép triệt 徹. 19 Khi chế độ tƣ hữu ruộng đất phát triển, số ruộng đất do nông dân sở hữu không bằng nhau, nhà nƣớc đã bãi bỏ cách đánh thuế cũ mà thi hành chính sách thu thuế đánh vào từng mẫu ruộng (gọi là thuế sơ mẫu). Nƣớc đầu tiên thi hành chế độ thu thuế mới là nƣớc Lỗ vào năm 594 trƣớc Công nguyên. Cùng với chế độ thu thuế mới, các nƣớc cũng thi hành chế độ quân sự mới.
Chế độ quân sự mới ở nƣớc Lỗ gọi là “khâu giáp”, nƣớc Trịnh gọi là “khâu phú”. Do sự biến đổi của nền kinh tế - xã hội, đặc biệt là phân công lao động xã hội, thủ công nghiệp thời Xuân thu - Chiến quốc cũng đã có sự biến chuyển cả về công cụ, kỹ thuật sản xuất, trình độ chuyên môn hoá lẫn sự xuất hiện các ngành nghề mới. Từ thời nhà Hạ, các nghề làm đồ gốm, đúc đồng đã hình thành.