CHƯƠNG 1: THƠ VÀ THIÊN TRONG ĐỜI SÓNG TINH THAN TRUNG QUOC THỜI DUONG (618-907) Thién Trung Quốc là thiền Phật giáo Ấn Độ được Trung Quốc hóa và thơ Đường ở vào đỉnh cao của nó là một tất yếu trước những cơ sở hạ tầng cũng như thượng tang được chuan bị chu đáo, xuât sac vê mọi mặt. Ở một đất nước nặng nè với lễ giáo phong kiến truyền thống, lòng tự tôn dân tộc cao độ và là một trong những nên văn minh cô xưa nhất của nhân loại như Trung Quốc, một tư tưởng ngoại lai muốn du nhập vào đất nước đó là một thách thức lớn. Nhưng Phật giáo không những sớm được người dân Trung Quốc đón nhận mà còn trở thành một tư tưởng ăn sâu gốc rễ trong tâm thức người dân tộc này. Hai tư tưởng lớn Nho gia và Lão gia tưởng chừng sẽ là trở lực vĩnh viễn của Phật giáo nhưng ngược lại.
Nho gia tìm được ở Phật giáo một bổ sung cần thiết. Lão gia nhìn Phật giáo như sự tương thông đáng được coi là một thành phần đồng đẳng của văn hóa truyền thống Trung Quốc. Chúng làm mới cho nhau, chung sông hài hòa với nhau và từ thời Nam Bắc triều, Phật giáo thực sự là một trong ba tư tưởng bản địa của Trung Quốc. Sự lớn mạnh, sự thay đôi của Phật giáo Trung Quốc đều có ảnh hưởng đáng kề vào đời sống tinh thần văn hóa, văn học và cả chế độ xã hội của đất nước này trong thời kỳ lịch sử có nhiều biến động và đầy phức tạp.
Thiền thời Tống tuy tông phong hưng thịnh song đó là sự hoàn thiện về mặt thuyết lý. Nếu xét ở phương diện triết học của tôn giáo thì quả thật thiền tông đời Đường chưa phát triển bằng đời Tống. Nhưng nhìn vào thơ ca thơ Tống mặc dù dùng nhiều thiền ngữ, thiền lý hơn thơ Đường nhưng không vì thế mà ý vị thiền của nó có thể sánh được với thơ Đường. Dù không muốn nói đến Phật giáo, một tư tưởng phương Đông uyên áo thâm tram mà với nhiều người, đó là một tâm thể sống thoát ly hiện thực và nói chung là huyén mộng thì cũng không thê phủ nhận vai trò và sức hút của nó đối 17 với dân tộc Trung Quốc.
Ít ra là trên các lĩnh vực văn học, nghệ thuật và tâm lý sông của con người thời đại đó. Cùng với thời gian Phật giáo từ một tôn giáo ngoại lai, phải mượn ngôn ngữ tôn giáo ban địa, phải ân đăng sau những lý giải của tôn giáo bản địa dé có đất tồn tại rồi dần dần trở lại được chính mình, độc lập khỏi tôn giáo bản địa và rồi trở thành một trong ba tư tưởng trọng yếu của truyền thống bản địa. Tuy nói rằng Phật giáo vẫn không chiếm địa vị độc tôn như Nho gia nhưng tầm ảnh hưởng của nó có lẽ sâu rộng và đều hơn tư tưởng bản địa. Một tâm lý thường thấy đối với nhiều nhà nghiên cứu là có thé nói rất nhiều về các tư tưởng khác khi nhìn nhận sự ảnh hưởng của nó đối với một tác phẩm, một nền văn học, một trường phái nghệ thuật nào đó một cách tự nhiên đúng với tinh thần khách quan như thé nhưng khi nói tới Phật giáo người ta lại e ngại.
Có lẽ an tượng là một tôn giáo cua Phat giáo đã lam cho ho thận trong. Điều đó ngăn ngại rất nhiều trong việc giải mã các tác phẩm văn học. Chúng tôi cho răng Phật giáo trước hết là một tư tưởng lớn, tính tồn giáo chỉ là sự nảy sinh trong quá trình đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người. Nhưng dẫu là yếu tố tôn giáo chăng nữa, nếu có trong văn học chúng ta cũng phải khách quan nhìn nhận thì sự nghiên cứu của chúng ta mới nói lên được điều mà tác phẩm văn học muốn nói tới.
Tiền đề co bản cho sự hưng thịnh của Thơ và Thiền 1. Điều kiện văn hóa-xã hội: Ông vua đầu tiên của triều đại nhà Tùy là Tùy Văn Đề lấy tư tưởng Phật giáo làm hệ tư tưởng chính. Nhờ đó, ông được nhân dân rất ủng hộ trong đường lối xây dựng và củng cố đất nước suốt thời gian tức vị của ông. Trai qua được ba đời vua với 37 năm cai tri (581-618) nhà Tùy nhanh chóng bị lật đồ dưới tay Tùy Dạng Dé, một ông vua ham thích việc xây dựng lâu đài cung điện và viễn chinh khiến cho đời sống người dân khốn đốn không yên phận được.
Tuy nhiên, 18 sự nghiệp thông nhât đât nước và phát triên phôn thịnh vê nhiêu mặt của nhà Tùy đã làm nên tảng cơ sở cho triêu đại nhà Đường nhiêu thuận lợi, một bàn đạp vững chac đê vươn tới đỉnh cao mới mà các triêu đại phong kiên trước va sau nó không dễ gì đạt được. Nông nghiệp thời Đường được quan tâm qua những cải tiễn kỹ thuật, khai khẩn đất hoang, thủy lợi đảm bảo, đời sống người dân được cải thiện rất nhiều. Công nghiệp cũng đặc biệt phát triển như ngành luyện sắt, khai thác than đá, đệt tơ, gồm sứ, đóng thuyền, dưới sự giám sát chặt chẽ của nhà nước. Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ của Trung Quốc được các nước châu Á, châu Âu yêu thích và sự phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu tạo nhiều thuận lợi cho việc mở rộng thương mại mậu dịch.
Có thế nói, thời kỳ này nhu cầu thương mại đã làm cho đất nước Trung Quốc đã phôn thịnh lai sam uất lên đáng kẻ. Về tư tưởng học thuật, phải nói rằng mở đầu thời Đường là một ông vua thao lược toàn tài'!, có tầm nhìn thông suốt trước những cái được và chưa được của lịch sử các triều đại trước. Ông đi vào cải tổ toàn diện mọi mặt của đời song xã hội trên một nền tảng đã được chuẩn bị chu đáo từ các triều đại trước. Đường chính là đỉnh cao của những phát triển đó.
Nho gia và Lão gia vẫn giữ vai trò là tư tưởng truyền thống bản địa. Phật giáo đến thời này, mặc dù trong giới cầm quyền và môn đồ hai tư tưởng trên vẫn đặt nặng nguồn gốc ngoại lai của nó nhưng trên thực tế sức lan tỏa sâu và rộng của nó là không thé che phủ được. Cả ba tư tưởng này đã trước hết hap thụ lẫn nhau và rồi trở lại cùng chi phổi lên mọi mặt của đời sống xã hội thời Đường. Riêng Văn học nghệ thuật với một không khí xã hội yên bình, đời sống đầy đủ, người ta có điều kiện, có nhu cầu nhiều hơn cho hoạt động đặc biệt dành riêng cho đời sống tinh thần này.
Chăng hạn, âm nhạc thời Đường phong phú với đủ loại nhạc cụ và âm điệu của các miên Tây Vực và Hô. Hội họa càng !' Đường Thái Tôn — Lý Thế Dân (599-649) 19 thành tựu hơn với phái thủy mặc sơn thủy, chuộng đề tài thiên nhiên dưới ảnh hưởng của Lão gia và Phật giáo như Vương Duy, Ngô Đạo Huyền. "Họa sĩ ở triều đình cũng nhiều như sao buổi sáng" (Đỗ Phủ), người người đều sáng tác, thưởng thức thơ văn, không kể tầng lớp nào, thế hệ nào của xã hội. Các vua Đường đặc biệt tạo điều kiện cho văn nhân thi sĩ và thơ ca khởi sắc khoe hương mà tên tuổi của họ đã quá quen thuộc không những đối với các nước phương Đông mà còn được cả thế giới biết đến như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Di.
Tương họp nội tại của Nho, Lão, Phật và con đường của Huệ Năng: 1. Tương hợp nội tại: Phật giáo đến Trung Quốc từ buổi đầu cho đến thời phát trién rực rỡ của nó trên đất nước này, bao giờ Phật giáo cũng vừa cố thủ vừa mềm dẻo, vừa chong đối vừa tiếp thu, vừa tranh luận vừa dung hợp. Những trở lực của một nền văn minh ngang tầm bao giờ cũng đầy thách thức và dai dăng. Phải nói rằng Lão gia tuy là người đầu tiên "mở cửa" cho Phật giáo nhưng những chung đụng của Lão gia và Phật giáo cũng không kém phan kịch liệt.
Bởi so với mối quan hệ giữa Nho gia và Phật giáo, mỗi quan hệ giữa Phật và Lão tinh tế hơn nhiều. Tuy nhiên, ba nhà Nho, Lão và Phật sở dĩ thừa tiếp tư tưởng của nhau, trông cậy được vào nhau là nhờ bản thân mỗi tư tưởng đó đã sẵn có sự giống nhau, cả những cái khác biệt cần bố sung lẫn nhau. Có thé thay su tuong hop nội tai qua giống va khác của ba tư tưởng Nho, Lão va Phật giáo từ góc nhìn của các luận đề triết học cơ bản đã được tìm thấy trong thơ Đường và giúp ích cho việc tìm hiểu thơ Đường. Trên mặt nhân sinh quan, bat kỳ một tư tưởng, một tôn giáo nào đều biểu thị một nhân sinh quan nhất định.
Thực ra, nguyên nghĩa của nhân sinh quan là quan niệm xung quanh cuộc sống con người, trong đó có khô đau, có hạnh phúc, có quan niệm nhân sinh nên khô hạnh, có quan niệm nhân sinh nên hưởng lạc. 20 Nhân sinh quan trong tương hợp nội tại của Nho, Lão và Phật chúng ta nói đến ở đây là một nhân sinh truy cầu hạnh phúc. Với nhiều con đường, nhiều cung bậc khác nhau. Tìm hiểu tâm tinh dân tộc Trung Quốc chính là dé hiểu yếu tố nội tại nao đã tạo nên sự hô ứng giữa hai tư tưởng bản địa là Nho và Lão với một tư tưởng có nguồn gốc ngoại lai như Phật giáo.
Tâm tính dân tộc thể hiện rất rõ quan niệm nhân sinh và vũ trụ. Mọi nỗ lực của Phật giáo, suy cho cùng là minh chứng cho khả năng thích ứng của nó đối với từng không gian, thời gian mà thôi, tức là với từng tâm tính dân tộc và ngược lại. Qua thơ cô Trung Quốc trước thời Đường, ngay cả trong Kinh thi chúng ta đã nhận ra được rang Lâm Ngữ Đường rat có lý khi nói về người Trung Quốc: "Ho có xu hướng tu nhiên và thành thực thích cái khía cạnh tam thường cua đời sống; óc tưởng tượng của họ chỉ dé phủ lên kiếp tran một bức màn thưa đẹp dé, mê hôn, chứ không phải để thoát ly cuộc sống". Họ có say mê thuốc tiên day nhưng không có nghĩa là họ muốn từ bỏ cuộc sống trần gian day "bãi biển nương dâu", đầy đau khổ và nhọc nhăn, cũng không phải muốn tìm hạnh phúc sau kiếp sống này hay "thế giới bên kia" mà là để kéo dài kiếp sống hiện tại.
Tinh thần thực tiễn đó của họ không nhất nhất đều trần trụi và nghiêm khắc. Vậy nên Không giáo tuy là tư tưởng chủ đạo của dân tộc Trung Quốc nhưng vẫn còn thiếu vắng nhiều trong đời sống tinh thần người dân.