phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn chia làm 3 chương và 7 tiết. TƢ TƢỞN “T M TÒN , TỨ ĐỨ ” TRON N O ÁO TRUN QUỐC VÀ Ở VIỆT NAM VỚI VIỆC XÂY DỰN ĐẠO ĐỨ N ƢỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Tƣ tƣởng " Tam tòng, tứ đức" trong Nho giáo ở Trung Quốc và sự tiếp diễn qua các thời kỳ 1. Một vài nét về sự hình thành và phát triển của Nho giáo, vị trí của tư tưởng " Tam tòng, tứ đức" trong Nho giáo.
Một vài nét về sự hình thành và phát triển của Nho giáo ở Trung Quốc. Trong thời kỳ Cổ - Trung đại, Trung Quốc là một trong những trung tâm văn minh lớn của thế giới. Trong giai đoạn này, lịch sử nhân loại đã ghi nhận nhiều phát minh vĩ đại của người Trung Quốc như: phát minh ra chữ viết, giấy, nghề in, thuốc súng, thiên văn học… Cùng với người Ấn Độ và các dân tộc phương Đông khác, Trung Quốc còn là quê hương của nhiều trường phái Triết học lớn, là chiếc nôi của nhiều nhà tư tưởng lớn. Có thể nói rằng, việc đánh giá vai trò của các tư tưởng Triết học và tôn giáo của Trung Quốc vẫn là một vấn đề được nhiều người quan tâm, bàn luận.
Vào thế kỷ XI ( Trước công nguyên) bộ lạc du mục Chu từ phái Tây Bắc men theo sông Hoàng Hà tiến vào và tiêu diệt nhà Ân, lập nên nhà Chu. Giai đoạn đầu nhà Chu, sử sách gọi là Tây Chu, sau là Xuân Thu. Thời kỳ này ở Trung Quốc có sự biến đổi từ đồ đồng sang đồ sắt, những công cụ bằng sắt thời kỳ Tây Chu khi bước sang Xuân Thu vẫn được coi trọng và được sử dụng rộng rãi. Việc sử dụng rộng rãi công cụ bằng sắt khiến lao động trồng trọt trở nên thuận lợi và dễ dàng hơn.
Điều đó, đã thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thủ công nghiệp và thương nghiệp. Sự phát triển về kinh tế tất yếu dẫn đến sự biến đổi sâu sắc trong kết cấu giai tầng xã hội. Nhiều giai tầng mới xuất hiện, tồn tại đan xen và mâu thuẫn giai cấp… Đó là tiền đề ra đời giai cấp địa chủ mới trong xã hội. Chính điều này đã dẫn đến sự thay đổi hết sức mạnh mẽ về mặt chính trị xã hội.
Mâu thuẫn giai cấp ngày càng diễn ra gay gắt, đó là mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc nhà Chu và giai cấp địa chủ mới với người dân ( những người nông nô, nô lệ và nông dân). Mâu thuẫn giữa thiên tử nhà Chu cùng chính sách vương 10 z đạo của tầng lớp quý tộc nhà Chu với các nước chư hầu cùng chính sách bá đạo. Do đó, từ thế kỷ VIII (Trước công nguyên), xã hội Nhà Chu bước vào một thời kỳ có nhiều biến động lớn, toàn diện và kéo dài cho đến thế kỷ thứ III (Trước công nguyên). Lịch sử gọi thời kỳ này là Đông Chu hay là thời kỳ Xuân Thu – Chiến Quốc (Năm 770 TCN – 221 Trước Công nguyên).
Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội thời Đông Chu lúc này giống như một bức tranh vẽ cảnh đất trời trong cơn giông bão với nhiều màu sắc và chính nó là cơ sở để nhiều khuynh hướng tư tưởng, học thuyết, triết gia xuất hiện. Giường như tất cả đều có một mục đích là ổn định đất nước và cứu vớt thiên hạ khỏi khổ đau. Thời kỳ này, Trung Quốc có nhiều trường phái Triết học, tiêu biểu là: Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia, Âm Dương gia… Là một trong những học thuyết ra đời thời kỳ này, ngay sau khi ra đời Nho giáo đã khẳng định được vị trí của mình đối với xã hội lúc bấy giờ. Khổng Tử được coi là người sáng lập Nho giáo.
Ông sinh năm 551 TCN mất năm 479 TCN. Ông tên thật là Khâu, tự là Trọng Ni sinh ra ở Khúc Phụ, nước Lỗ trong một gia đình quý tộc nhỏ có hoàn cảnh sa sút. Sử sách cũ còn ghi: Thời nhỏ, Khổng Tử hay chơi trò bày đồ cúng tế, ham học, thích nghiên cứu thi, thư, lễ nhạc đời trước. Điều này đã biểu hiện bản tính của Khổng Tử luôn coi trọng những điều lễ nghĩa.
Năm 19 tuổi, ông thành gia thất rồi nhận chức quan coi kho, sau ông lại đi làm quan coi việc cúng tế. Do chủ trương chính trị không hợp ông bỏ nước Lỗ đi chu du qua nước Vệ, Tống… Nhưng đường lối của ông cũng không được nước này tin dùng. Năm 70 tuổi ông trở về nước Lỗ dạy học và là người đầu tiên mở nền tư học. Học trò của ông lên đến 3000 người, trong đó có 72 người xuất sắc.
Là người đại diện cho lực lượng cấp tiến trong tầng lớp quý tộc cũ, sống trong thời kỳ loạn lạc, hàng ngày Khổng Tử tận mắt chứng kiến cảnh cướp bóc nên ông luôn ôm ấp hoài bão xây dựng một xã hội an bình thịnh trị, một xã hội có đạo đức theo khuôn mẫu nhà Tây Chu. Do đó, đường lối trị nước của ông là phải dùng “đức trị” , “ lễ trị” thì xã hội mới “hữu đạo”, thịnh vượng. Ông xây dựng nên học thuyết của mình, mở trường dạy học, đi chu du các nước để tìm lý tưởng của mình nhằm phục vụ cho mục đích trên. 11 z Nội dung của Nho giáo được thể hiện trong hai bộ sách kinh điển Tứ thư ( Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử) và Ngũ kinh ( Kinh thi, Kinh thư, Kinh lễ, Kinh dịch và Kinh xuân thu).
Qua hệ thống kinh điển có thể thấy hầu hết các kinh, các sách đều viết về xã hội, về những kinh nghiệm trong việc xây dựng và củng cố nhà nước Trung Hoa. Sau khi Khổng Tử mất, Nho gia tiếp tục được Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển theo hai hướng khác nhau duy vật và duy tâm. Trong hai hướng đó thì Nho gia Khổng – Mạnh có ảnh hưởng rộng lớn hơn đến lịch sử Trung Hoa và một số nước Á Đông khác. Trong học thuyết của Nho giáo người phụ nữ ít được bàn đến nhưng không phải là không có.
Các vấn đề đạo đức và phẩm chất của người phụ nữ được Khổng Tử thể hiện trong tư tưởng “ Tam tòng, tứ đức”. Vị trí của tư tưởng" Tam tòng, tứ đức" trong Nho giáo. Nho giáo là một học thuyết của xã hội phong kiến, nó giữ vai trò thống trị trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc qua nhiều thế kỷ. Vì vậy những quan điểm, đường lối, phương pháp, chuẩn mực mà Nho giáo đề ra phục vụ đắc lực cho chính xã hội sinh ra nó.
Nho giáo bàn nhiều đến vấn đề như quan niệm về thế giới ( đạo. thiên lý, thiên mệnh…) học thuyết về luân lý đạo đức với những nguyên lý căn bản như: Nhân, Lễ, Dũng, trong đó chữ “ Nhân” được đề cập đến với ý nghĩa sâu rộng nhất, nó được coi là nguyên lý chủ yếu quyết định bản tính con người, những quan hệ giữa con người với con người trong gia tộc và ngoài xã hội. Bên cạnh đó Nho giáo còn bàn đến vấn đề chính trị - xã hội với quan điểm “ Nhân trị”, “ Chính danh”, “ Thượng hiền”. Vấn đề con người nói chung cũng được Nho giáo bàn đến.
Theo Nho giáo muốn xây dựng thành công và giữ vị trí thống trị của xã hội thì phải có người điều hành, tổ chức xã hội đó. Điều này khiến cho vấn đề con người được xã hội phong kiến Trung Quốc cũng như Nho giáo rất quan tâm. Con người là vấn đề trung tâm của Nho giáo nhưng không được bàn đến trong tất cả các mặt của nó mà chú trọng vào khía cạnh luân lý, đạo đức nhằm mục đích xoa dịu mâu thuẫn giai cấp và ổn định trật tự xã hội. Con người trong Nho giáo được bàn đến dưới những góc độ như: Nguồn gốc con người, tính người, số phận con người, mẫu 12 z người lý tưởng, đạo làm người… Trong tất cả các vấn đề nêu trên người phụ nữ được bàn đến rất ít.
Một số vấn đề trong Nho giáo đề cập đến người phụ nữ như: Học thuyết luân lý đạo đức phong kiến, quan niệm về đạo làm vợ, đạo làm con, mối quan hệ với mọi người trong gia tộc, ngoài xã hội; quan niệm về phạm vi, lĩnh vực, công việc mà họ được phép tham gia. Nhìn chung người phụ nữ trong Nho giáo được đánh giá là một lực lượng có tầm quan trọng để xây dựng xã hội nhưng họ luôn ở vị trí phụ thuộc vào nam giới. Họ chỉ tồn tại với tư cách là một yếu tố cần cho trật tự gia đình, xã hội. Về số phận của họ cũng như số phận của con người nói chung, theo Khổng Tử, con người có mệnh và họ không thể cưỡng lại mệnh (chữa được bệnh chứ không chữa được mệnh).
Còn Mạnh Tử cho rằng, trời an bài địa vị xã hội của con người. Đổng Trọng Thư cho rằng, trời và người cảm thông với nhau (“ Thiên nhân cảm ứng”), trời là chủ tể của việc người, người có công thì hưởng, người có tội thì phạt, bắt khổ phải khổ. Quan điểm này được xây dựng trên lập trường của giai cấp thống trị, nó phục vụ cho mục đích của giai cấp thống trị, nó buộc con người nói chung, đặc biệt là phụ nữ vào những khuôn phép nhất định của xã hội, nó xoa dịu mâu thuẫn giai cấp, sự bất công trong xã hội, khiến cho người phụ nữ luôn cam chịu, nhẫn nhục, bằng lòng với số phận của mình. Nho giáo không giải thích sự rối loạn của xã hội từ cơ sở kinh tế mà cho rằng nguyên nhân dẫn đến sự rối loạn xã hội là từ bản chất con người, đặc biệt là từ khía cạnh đạo đức.
Mạnh Tử quan niệm rằng bản chất con người là thiện, con người cần phải hiểu được năm mối quan hệ cơ bản trong cuộc sống của mình đó là quan hệ vua – tôi, quan hệ cha – con, quan hệ vợ - chồng, quan hệ anh – em và quan hệ bạn bè. Theo Mạnh Tử con người phải tự đưa mình vào các mối quan hệ đó một cách phù hợp và theo đúng chuẩn mực. Trong mối quan hệ vua – tôi, tôi tự thấy mình phải có nghĩa vụ với vua; trong mối quan hệ vợ - chồng, vợ phải tự thấy khác biệt và tuân theo chồng; trong mối quan hệ trên – dưới phải đảm bảo tôn ti, trật tự; trong quan hệ nam – nữ phải nhìn những phép tắc, ranh giới.