đặt vấn đề tu thân, hành đạo lên hàng đầu trong nhiệm vụ giữ nước, giúp dân của mình. Nguồn gốc du nhập tư tưởng Nho giáo vào Việt Nam Nho giáo vào Việt Nam là do những người nắm quyền của Trung Quốc áp đặt. Nhưng khi nền tảng và cơ cấu xã hội Việt Nam ít nhiều đã mang tính chất của phương Bắc thì Nho giáo lại là một yêu cầu, một thứ học thuật tư tưởng mà người trong nước cần phải tiếp nhận và học tập. Trong thời kỳ Bắc thuộc khuynh hướng này chưa mạnh mẽ như sau khi đất nước giành được độc lập.
Song định hướng cho phát triển sau này thì đã rõ ràng. Từ khi người Hán đến đất nước ta (trước Công nguyên), Nho giáo đã vào Việt Nam, nhưng sự truyền bá có nề nếp là từ thế kỷ I sau công nguyên. Sử Trung Quốc có ghi lại việc hai thái thú ở Giao Chỉ và Cửu Chân là Nhâm Diên và Tích Quang (thời đầu Công nguyên) đã dựng học hiệu và dạy lễ nghĩa. Đến thế kỷ II, khi Sĩ Nhiếp làm thái thú Giao Chỉ thì việc học Nho ở nước ta đã đã tương đối phổ biến.
Thế kỷ III có Lý Cầm, Bốc Long,… đỗ hiếu liêm và mậu tài được làm quan ở Trung Nguyên. Đến thế kỷ V, vào thời Đường hai anh em Khương Công Phụ và Khương Công Phục, người Cửu Chân (Thanh Hóa) đều đỗ học vị cao nhất lúc bấy giờ là tiến sĩ và đều làm n 13 quan ở Trung Quốc,. Đó là những người đỗ đạt cao, được sử sách ghi lại và khen ngợi. Còn những người khác, không có danh vọng thì rất nhiều.
Giao Châu lúc bấy giờ là mảnh đất tương đối yên ổn, nhiều nhà Nho Trung Quốc chạy sang nương náu và sáng tác học thuật. Tình hình trên làm cho người Giao Châu dần dần làm quen với Nho giáo, rồi từ đó có sự thay đổi trong nhận thức, trong thái độ đối với Nho giáo: Từ phản ứng đến tiếp thu, từ xa lạ đến gần gũi, từ công cụ của kẻ bên ngoài trở thành công cụ của bản thân mình. Hiện tượng này ở cuối thời Bắc thuộc đã biểu lộ rõ. Đến thời Lý, với sự kiện Lý Thái Tổ cho xây cất Văn Miếu thờ Chu Công, Khổng Tử (1076), mới có thể xem là Nho giáo được tiếp nhận chính thức.
Chính vì vậy mà Nho giáo ở Việt Nam chủ yếu là Tống Nho. Vào năm 1232 vua Trần đã đặt ra học vị đầu tiên cho thi cử Nho giáo ở nước ta, đó là học vị Thái học sinh (về sau đổi thành Tiến sĩ) và có Chu Văn An đỗ thái học sinh nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học, đào tạo được khá đông học trò. Các nhà Nho thời kỳ này ra sức bài xích Phật giáo để khẳng định chỗ đứng của mình. Tuy nhiên, đến cuối thời Trần, Nho giáo vẫn chưa được chấp nhận rộng rãi.
Phải đến thế kỷ XV, khi nhà nước phong kiến Lê Sơ được thiết lập thì chế độ phong kiến Việt Nam đi vào giai đoạn phát triển cực thịnh. Từ thời kỳ này, Nho giáo giành được vị trí độc tôn trong đời sống chính trị và tinh thần của nước Đại Việt. Không chỉ việc học tập, thi cử theo khuôn mẫu Nho học, mà cả lĩnh vực văn học, nghệ thuật mang nội dung Nho học cũng phát triển mạnh. Lê Lợi cho mở trường ở kinh thành và các địa phương để dạy cho con cái quý tộc và cả tầng lớp thứ dân.
Lê Thánh Tông là ông vua am hiểu Tống Nho rất sâu sắc và đã nâng Nho giáo lên địa vị cao nhất, cho xây lại Văn Miếu và lập nhà Thái học, quy định thể lệ thi cử để tuyển dụng đội ngũ quan lại. Đến thế kỉ XVIII, cuộc đại phá quân Thanh đã đưa nhà Tây Sơn lên cầm quyền và vẫn lấy Nho giáo làm quốc giáo. Do trước đó, việc học tập, thi cử chỉ n 14 nhằm mục đích cầu danh, cầu lợi mà quên đạo lý, cương thường, nên sau khi lên nắm quyền, vua Quang Trung đã hạ chiếu yêu cầu Nguyễn Thiếp, vị đứng đầu viện Sùng Chính phải chấn chỉnh Nho học, đồng thời quyết định lấy chữ Nôm làm văn tự chính thống của quốc gia. Chiếu lập học của vua Quang Trung lệnh cho tổ chức trường quốc lập đến tận làng xã và chọn thầy giáo là những người hay chữ và có đức hạnh.
Bởi vậy, dù triều đại vua Quang Trung ngắn ngủi nhưng đã tạo được không khí hiếu học trong dân gian rất đáng khâm phục. Để củng cố địa vị thống trị của mình, vua quan nhà Nguyễn ra sức phục hồi và phát triển Nho giáo. Các vua nhà Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, Thiệu Trị đều là những người trực tiếp truyền bá Nho giáo và đào tạo Nho sĩ. Các nội dung mệnh trời, tam cương, ngũ thường, trung hiếu, tiết nghĩa.
của Nho giáo được đề cao theo hướng duy tâm và khắc nghiệt hơn. Gia Long ban hành bộ Hoàng triều luật lệ làm công cụ để bảo vệ tam cương, ngũ thường, trong đó phạt tội bất trung, bất hiếu còn tàn khốc hơn bộ luật Hồng Đức dưới triều Lê. Minh Mạng ban hành mười huấn dụ, gọi là Thập điều nhằm khuyên răn người dân theo về với chính đạo là Nho giáo và triều đình. Trong đó, điều mục đầu tiên và bao trùm lên tất cả là Đôn nhân luân tức là phải luôn ghi nhớ và thực hiện tam cương, ngũ thường.
Có thể thấy, Nho giáo thịnh suy theo bước thăng trầm của các triều đại phong kiến. Khi nhà Nguyễn lên cầm quyền, địa vị của Nho giáo một lần nữa khẳng định để rồi tàn lụi dần khi phải đối mặt với sự tấn công của văn hóa phương Tây ở cuối thế kỉ XIX. Tư tưởng Nho giáo Việt Nam thế kỉ XVI - XVII Thế kỷ XVI - XVII là thời đầy biến động của xã hội Việt Nam. Chiến tranh xảy ra liên miên giữa các tập đoàn phong kiến, từ cuộc chiến tranh Trịnh – Mạc cho đến Trịnh – Nguyễn, làm đảo lộn đời sống xã hội.
Nho giáo, mặc dù trước đó có ảnh hưởng rất lớn ở Việt Nam, nhưng lúc này đã bộc lộ những hạn chế, dần mất vị trí của mình, tạo điều kiện cho sự phát triển Phật giáo, Đạo giáo,… Nhưng, suốt từ thời Mạc cho đến Lê trung hưng, Phật giáo, Đạo giáo hay bất cứ một tôn giáo nào khác cũng vẫn không thay thế được Nho giáo ở n 15 cương vị của một đạo trị nước, một học thuyết về quản lý xã hội. Điều đó lý giải cho sự tồn tại của Nho giáo lâu dài trong xã hội phong kiến ở nước ta. Vào thời kỳ này, nhiều vấn đề về nội dung và hình thức tồn tại của Nho giáo ở Việt Nam đã xuất hiện. Từ khi Lê Hiển Tông mất (1504) cho đến lúc Mạc Đăng Dung cướp ngôi (1527), quyền bính của triều đình nhà Lê rơi vào tay Mạc Đăng Dung, chấm dứt vương triều nhà Lê.
Nhà Mạc thay thế nhà Lê vẫn coi Nho giáo là cơ sở cho mọi hoạt động chính trị của mình. Nhưng trước sự thay thế vương triều Lê bằng vương triều Mạc, Nho giáo dù vẫn được coi là đạo trị nước chủ yếu, nhưng giai cấp thống trị, tầng lớp Nho sĩ cũng như dân thường đã giảm sút niềm tin vào Nho giáo và sự biện hộ của Nho giáo đối với những nguyên tắc cơ bản của chế độ quân chủ tập quyền. Lúc này, Nho giáo tỏ ra không đủ sức giúp nhà vua trị nước, yên dân, đưa mọi người tới cảnh thái bình thịnh trị, vua sáng tôi hiền, nhân dân hoà mục. Vì thế, nhiều Nho sĩ ít hứng thú với mục đích trị quốc, bình thiên hạ.
Điều này là do, vào thế kỷ XVI, ở nước ta, chính quyền đã chuyển từ tay tập đoàn phong kiến này sang tay tập đoàn phong kiến khác điều này là do các thần tử cướp ngôi vua, nên quan niệm trung quân trong kinh điển của Nho giáo phải được giải thích lại cho phù hợp với thực tế biến động của thời đại. Nhiều Nho sĩ bất lực trước thời cuộc. Vì vậy, không những giới Nho sĩ mà cả đông đảo những người bình dân cũng tin vào số trời, thần thánh và những lực lượng siêu nhiên. Lúc này, vua chúa cũng như công hầu đứng ra xây chùa và cúng ruộng vào chùa rất nhiều.
Còn với các Nho sĩ, đạo Nho không còn thuần khiết và tồn tại như quan điểm duy nhất, lập trường duy nhất để nhìn nhận mọi sự vật. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã kết hợp Nho gia với Đạo gia, còn Nguyễn Dữ thì kết hợp lý thuyết của Nho giáo với lý thuyết của Đạo giáo. Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ đã nói lên sự kết hợp đó. Chiến tranh và bạo lực đã trở thành một thủ đoạn phổ biến để tranh giành quyền lực và thanh toán lẫn nhau giữa các tập đoàn phong kiến.
Vì vậy, nguyện n 16 vọng được sống trong hoà bình, ổn định của nhân dân cũng được phản ánh trong tư tưởng của các nhà Nho đương thời, thể hiện ở những quan điểm về đức trị, về nhân nghĩa. Nhưng trước xu thế chiến tranh và bạo lực của thời đại, thì những tiếng nói nhân nghĩa, đức trị như vậy tỏ ra mong manh, yếu ớt, không còn sinh khí, sức mạnh nữa. Đứng trước cuộc hỗn chiến của các tập đoàn phong kiến, các Nho sĩ phải nhận thức lại quan niệm trung quân và tư tưởng “trị quốc, bình thiên hạ” của Nho giáo cho phù hợp với thời cuộc. Người Nho sĩ phải chọn chủ để thờ, phải phục vụ cho một tập đoàn phong kiến nhất định.
Tư tưởng chính thống của Nho giáo vẫn còn ảnh hưởng nhất định trong giới Nho sĩ thế kỷ XVI và XVII. Trong thời nội chiến, các tập đoàn phong kiến đều giương cao ngọn cờ Nho giáo, coi Nho giáo là cơ sở tư tưởng để đưa ra mọi chủ trương, chính sách, tổ chức và điều hành mọi hoạt động xã hội. Do đó, tập đoàn phong kiến nào cũng lo mở mang việc học hành, thi cử theo Nho học và truyền bá đạo Nho để giáo hoá nhân dân, tuyển lựa nhân tài. Sự hưng thịnh của Phật giáo và Đạo giáo ở Việt Nam hồi thế kỷ XVII chứng tỏ rằng, Nho giáo có mặt yếu kém, hạn chế, nên phải lùi bước để giành chỗ đứng cho Phật giáo, Đạo giáo.
Tuy nhiên, suốt từ thời Mạc cho đến Lê trung hưng, Phật giáo, Đạo giáo hay bất cứ một tôn giáo nào khác cũng vẫn không thay thế được Nho giáo ở cương vị của một đạo trị nước, một học thuyết về quản lý xã hội và tổ chức hành chính. Do đó, hết thế hệ Nho sĩ này đến thế hệ Nho sĩ khác được tái sản xuất một cách liên tục.