phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và nội dung chính của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết và 9 tiểu tiết. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC 1. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ- XÃ HỘI VÀ TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC 1. Điều kiện kinh tế - xã hội cho việc hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đạo đức Nghệ An, quê hương Hồ Chí Minh, là vùng đất giàu truyền thống yêu nước và chống giặc ngoại xâm.
Nơi đây đã nuôi dưỡng nhiều anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam như: Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung, các nhà lãnh đạo yêu nước thời cận đại như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu,… Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình yêu nước. Cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ là một nhà nho giàu lòng yêu nước nồng nàn, thương dân sâu sắc, cần cù, ý chí vượt qua gian khổ, khó khăn để đạt được mục đích, mục tiêu của mình. Chủ trương lấy dân làm cơ sở cho mọi cải tiến chính trị - xã hội của thân phụ đã có ảnh hưởng sâu sắc đến việc hình thành tư tưởng chính trị và nhân cách con người Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở một làng quê nghèo nhưng là người con ưu tú của dân tộc Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành trước hết từ truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của quê hương, đó là truyền thống yêu nước nồng nàn, cần cù, anh dũng, ngời sáng từ dựng nước và giữ nước, tình đoàn kết, nhân ái của con người Việt Nam.
những truyền thống tốt đẹp đó đã được hình thành, bồi đắp qua hàng nghìn năm lịch sử thăng trầm của dân tộc. “Chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiện đại” (Trần Văn Giàu, 1980, tr. Và chủ nghĩa yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc, giữ vị trí tiên phong, 7 nòng cốt cho mọi hành động. Yêu nước đã trở thành động lực, sức mạnh truyền thống nội sinh, đạo lý nhân văn, niềm tự hào và là nhân tố có giá trị tinh thần to lớn của dân tộc Việt Nam.
Việt Nam chúng ta có lịch sử, văn hóa lâu đời với truyền thống chống giặc ngoại xâm, cho đến thế kỷ XIX, Việt Nam vẫn là một nước lạc hậu, kém phát triển nhất nhì khu vực Đông Nam Á. Khoảng giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến nhà Nguyễn ở Việt Nam đã bước vào thời kỳ suy vong, nắm bắt được tình hình đó, đế quốc Pháp tiến hành các bước xâm lược, biến Việt Nam thành một nước phong kiến nửa thuộc địa. Sau khi hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam, thực dân Pháp bắt tay vào khai thác, vơ vét của cải, mọi nguồn tài nguyên trên quy mô lớn ở lãnh thổ Việt Nam cũng như Lào, Campuchia. Từ đây mọi mặt đời sống, kinh tế-chính trị-xã hội Việt Nam thay đổi gần như hoàn toàn, tất cả đều chịu sự sai khiến của thực dân Pháp.
Và giai cấp công nhân Việt Nam cũng ra đời từ đây cũng với sự ra đời của giai cấp tư sản và tiểu tư sản, xã hội Việt Nam đã bước sang một thời kỳ mới. Thời kỳ của sự áp bức, bóc lội của ngoại quốc và địa chủ phong kiến trong nước. Theo đó, bên cạnh mâu thuẫn trong xã hội phong kiến giữa nông dân và địa chủ đã có từ lâu, sự xuất hiện của các giai cấp xã hội mới làm nảy sinh mâu thuẫn mới: mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam còn non trẻ với giai cấp tư sản; mâu thuẫn giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân đế quốc Pháp. Trước những thay đổi mạnh mẽ về xã hội, phong trào cách mạng Việt Nam cũng có những bước phát triển mới, trong đó có sự xuất hiện của phong trào yêu nước kiểu mới và phong trào công nhân ở Việt Nam đứng lên chống bọn thực dân Pháp và địa chủ, tay sai trong nước.
Đầu thế kỷ XX, dưới ảnh hưởng của các cuộc vận động đổi mới ở Trung Quốc của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Các phong trào nổi bật ở một số nước như: Duy Tân của Nhật Bản, cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, và phong trào yêu nước ở Việt Nam đã chuyển biến mạnh mẽ ảnh 8 hưởng đến các phong trào theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các học giả yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh lãnh đạo. Có thể kể đến một số phong trào như Đông Du, phong trào Duy Tân, phong trào Đông Kinh. Trường Đông Kinh Thiên Thư bị đóng cửa (12/1907), phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ bị đàn áp (1908); vụ đầu độc Hà Thành (6-1908). Phong trào Đông Du bị tan rã, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông bị trục xuất khỏi Nhật (2/2009).
Phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ bị đàn áp, các thủ lĩnh như Trần Quý Cáp, Nguyễn Hàng Chi bị chém… Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn bị đày ra Côn Đảo. Dù thất bại, nhưng các phong trào yêu nước đó đã không ngừng giữ vững ngọn lửa cứu nước luôn cháy trong lòng nhân dân. Có thể thấy cùng với các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân ta, sự ra đời và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất đã làm cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam thêm nhân tố mới. Các phong trào kháng chiến nhanh chóng bị chìm trong biển máu, vì không có con đường cứu nước đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đặt ra.
Sứ mệnh lịch sử đặt ra cho cả dân tộc, mỗi người con Việt Nam yêu nước lúc bấy giờ là tìm đường cứu nước, cứu dân khỏi sự đàn áp, ách thống trị của đế quốc thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai. Chứng kiến cảnh nước mất, nhà tan đó Nguyễn Tất Thành một thanh niên trẻ tuổi lúc bấy giờ đang nung nấu khát vọng ấy. Bên cạnh đó truyền thống nhân nghĩa, tương thân tương ái, truyền thống đoàn kết, kiên cường, bất khuất đã được hình thành cùng với sự hình thành của lịch sử dân tộc, từ hoàn cảnh và yêu cầu đấu tranh quyết liệt chống phong kiến, tay sai và thực dân xâm lược. Đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam tuy đã có sự biến đổi sâu sắc về cơ cấu giai cấp xã hội nhưng truyền thống tốt đẹp ấy vẫn bền vững, không phai nhạt và ngày một mãnh liệt hơn.
Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy sức mạnh nội sinh của truyền thống dân tộc đó 9 là nhân nghĩa, nhân văn, đoàn kết, tương thân, tương ái sâu sắc. Từ đó tạo động lực, sức mạnh tinh thần không hề nhỏ để Hồ Chí Minh bước qua những chông gai, thử thách trên con đường tìm đường cứu nước của Người. Chính sức mạnh truyền thống yêu nước ấy đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường giải phóng dân tộc, tìm sự độc lập, tự do cho nhân dân. Lòng yêu nước là động lực mãnh liệt nhất thúc đẩy mọi suy nghĩ và hành động trong suốt quá trình hoạt động cách mạng ở các nước cũng như ở Việt Nam hết sức gian khổ, khó khăn, thậm chí có lúc an nguy đến tính mạng của chính mình.
Với hoài bão lớn, lý tưởng lớn và lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần đặt dân tộc lên trên hết, “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, Người đã đặt cho mình cái tên Nguyễn Ái Quốc để tự nhắc nhở bản thân, đồng thời làm động lực cho cả dân tộc sống chiến đống vì Tổ quốc vì sự tự do của nhân dân. Năm 1969, cả nước khóc, xúc động khi Bác ra đi mãi mãi: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước Việt Nam ta đã sinh ra Hồ Chủ Tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại và chính người đã làm rạng rỡ cho dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước Việt Nam ta. Người là tinh hoa của dân tộc Việt Nam, là ý chí kiên cườn,g bất khuất của nhân dân Việt Nam bốn ngàn năm lịch sử.” (Diễn văn truy điệu Bác, 1969) Xuất phát từ thực tiễn và truyền thống yêu nước của Việt Nam đầu thế kỷ XX yêu cầu cần phải đổi mới trong tư tưởng và hành động là tiền đề thôi thúc Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và tất nhiên chính điều đó đã làm cho các tầng lớp nhân dân yêu nước đến với hệ tư tưởng Mác - Lê-nin. Bác viết: Lúc đầu chính chủ nghĩa yêu nước, không phải chủ nghĩa cộng sản đã làm cho tôi tin theo chủ nghĩa Lê-nin, theo Quốc tế thứ ba.
Mặt khác vào đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc từ đó trật tự thế giới chuyển sang giai đoạn mới. Các nước đế quốc mạnh bắt đầu thể hiện quyền lực của mình bằng cách vừa tranh giành, vừa xâu xé các nước thuộc địa vừa liên kết 10 với nhau để nô dịch, đàn áp các dân tộc, quốc gia yếu thế hơn mình, biến các dân tộc này thành thuộc địa của chúng. Trước tình hình đó việc đấu tranh, giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không còn là việc riêng của quốc gia riêng lẻ nào mà nó đã trở thành cuộc đấu tranh chung của các dân tộc thuộc địa bị áp bức trên toàn thế giới, của giai cấp vô sản quốc tế cùng nhau lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản ở đế quốc chủ nghĩa. Chính điều kiện về kinh tế - xã hội lúc bấy giờ là tiền đề rất quan trọng cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức nói riêng.
Tiền đề lý luận hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đạo đức - Tư tưởng phương Đông Như chúng ta đã biết Nho giáo có những yếu tố duy tâm và lạc hậu không thúc đẩy cho sự phát triển, tuy vậy cũng không thể phủ nhận những yếu tố tích cực của nó có ảnh hưởng tốt đến đời sống xã hội cũng như quá trình hình thành và phát triển của lịch sử phương Đông. Đó là triết lý hành động, hành đạo, giúp đời; giúp người; lý tưởng về một xã hội bình đẳng; Triết lý nhân sinh: tu thân, dưỡng tính, nói điều hay, làm việc tốt góp phần phát huy văn hóa, tín ngưỡng, phát huy tinh thần hiếu học, trọng người.