phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm: 2 chương và 6 tiết. 8 z NỘI DUNG Chƣơng 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM Ô 1.1 Quan điểm của Hồ Chí Minh về tham ô 1.1 Khái niệm chung Theo Đại từ điển Tiếng Việt, tham ô là “lợi dụng quyền hành để lấy của công làm của riêng”[14,1523]. Theo định nghĩa trên, đối tượng tham ô là người có quyền hạn và chức trách thực hiện hành vi lấy của công làm của riêng. Người có quyền hạn để tham ô là cán bộ, những người được Đảng và nhân dân ủy quyền, tin tưởng giao quyền hành và chức trách để quản lý, điều hành xã hội, nhưng khi nắm quyền hành trong tay họ đã lợi dụng chức quyền để biến của công làm của riêng.
Làm mất lòng tin của nhân dân và gây tổn hại đến sự nghiệp cách mạng. Tham ô là vấn đề được Hồ Chí Minh quan tâm từ rất sớm và xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ngay từ nhỏ, Người đã chứng kiến bọn quan lại tham lam, nhũng nhiễu, vơ vét của dân, đục khoét của công. Những hình ảnh đó khắc sâu trong tâm trí Hồ Chí Minh, hun đúc lòng yêu nước và khát vọng ra đi tìm kiếm một con đường mới giúp nhân dân thoát cảnh bần cùng.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Người đã nhìn r bản chất tham lam, tàn bạo của chính quyền thực dân phong kiến và Hồ Chí Minh đã công khai vạch trần, lên án nạn tham ô, nhũng lạm trong rất nhiều các bài báo, bài viết của mình. Trong bài Đông ương và Triều Tiên đăng trên Báo Le Populaire, ngày 4-9-1919, Người đã viết: “Trong cái xứ này do thiếu sót hay nói cho đúng hơn, là do ý định của chính phủ, nên đâu đâu từ trên xuống dưới cũng đều có cái nạn tham nhũng mua quan bán chức, những bọn người mua bán được bằng tiền thì không phải là những thứ hàng hóa hiếm”. Tiếp đó, Người đã chỉ ra hết vụ bê bối này đến bê bối khác của các quan cai trị chuyên ăn hối lộ và khẳng định: “Tất cả 9 z những kẻ có quyền hành như vậy cũng đều sẽ lợi dụng để vơ vét của cải cho bản thân mình và bằng cách đó sẽ mang lại tổn thất lớn cho xã hội” [28,171]. Trong tác phẩm “ ản án chế độ thực dân Pháp”, viết bằng tiếng Pháp, xuất bản tại Paris năm 1925, Hồ Chí Minh đã dành hẳn một chương để viết về nạn tham nhũng trong bộ máy cai trị.
Người cho rằng, chính thói tham lam, xa hoa, vô độ của bọn cai trị đã làm cho gánh nặng thuế khóa trên đôi vai người dân thuộc địa ngày càng trĩu xuống và buộc họ phải đấu tranh lật đổ chế độ cai trị của chủ nghĩa đế quốc thực dân. Từ sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, do xuất phát điểm của chúng ta còn thấp, hầu hết đảng viên xuất thân từ các thành phần kinh tế khác nhau nên không tránh khỏi có một số đảng viên rơi vào tình trạng tham ô, lãng phí, quan liêu. Theo Hồ Chí Minh, trong ba căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu, thì tham ô là kẻ thù nguy hiểm nhất bởi nó là hành động xấu xa, tội l i, đê tiện nhất trong xã hội. Nó nguy hiểm tới mức là căn bệnh duy nhất mà Người từng xếp ngang hàng với tội phản quốc.
Do đó, chống tham ô là công việc cần kíp như đánh giặc trên mặt trận. Cho tới những năm cuối đời, Hồ Chí Minh còn căn dặn cán bộ, chiến sĩ phải chống tham ô, nhũng lạm để không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Thông qua các bài báo, bài viết, Hồ Chí Minh đã cung cấp một cách nhìn tổng quát về tham ô và biểu hiện của nó trên các phương diện của đời sống. Năm 1952, Trong bài Thực hành tiết kiệm chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu.
Người đặt câu hỏi: “Tham ô là gì?” và giải thích như sau: - “Đứng về phía cán bộ mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công làm của tư Đục khoét của nhân dân Ăn bớt của bộ đội Tiêu ít mà khai nhiều, lợi dụng của chung của chính phủ để làm quỹ riêng cho địa phương mình, đơn vị mình, cũng là tham ô. 10 z - Đứng về phía nhân dân mà nói, tham ô là: Ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế” [34,355] Trong Bài nói chuyện nhân dịp tết Nhâm thìn năm 1952, Hồ Chí Minh khẳng định: “Tham ô là lấy của công làm của tư. Là gian lận tham lam. Là không tôn trọng của công.
Là không thương tiếc tiền gạo mồ hôi nước mắt của đồng bào làm ra, do xương máu của chiến sĩ làm ra” [34,296]. Như vậy, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, đối tượng tham ô không chỉ là cán bộ mà còn là người dân. Mặc dù, hình thức có thể khác nhau nhưng về bản chất cán bộ, người dân tham ô đều là hành động ăn cắp, biến của công thành của tư, khuất tất, mờ ám và bất minh. Tham ô dẫn tới hậu quả hết sức nghiêm trọng, trước hết là ảnh hưởng đến công cuộc cải thiện đời sống nhân dân, sau đến làm suy thoái đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên.
Là người đứng đầu Chính phủ, Hồ Chí Minh không chỉ bàn về vấn đề tham ô mà còn nói tới vấn đề “nhũng lạm”. Trong bài “Tự phê bình” đăng trên báo Cứu Quốc số 153, ngày 28-1-1946, sau khi khẳng định Chính phủ có làm được một số việc, Hồ Chí Minh đau lòng thừa nhận rằng: “Tuy nhiều người trong ban hành chính làm việc tốt và thanh liêm, song cái tệ tham ô, nhũng lạm chưa quét sạch” [31,192]. Đây là lần đầu tiên trong lãnh đạo chế độ mới, Hồ Chí Minh dùng hai từ “nhũng lạm” với nghĩa là cán bộ lạm dụng quyền lực nhũng nhiễu dân chúng để đục khoét của dân. Người viết: “Những người trong công sở đều có ít quyền hành.
Nếu không giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính thì dễ trở nên hủ bại, biến thành sâu mọt của dân”. Người chỉ rõ: “Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vi tư” [33,127]. Tóm lại, theo Hồ Chí Minh, tham ô, nhũng lạm đều là những hành động xấu xa, tội l i, đê tiện nhất.
Nếu thiếu lương tâm, cán bộ và nhân dân đều 11 z có thể tham ô. Nhân dân tham ô chủ yếu là ăn cắp của công, khai gian, lậu thuế. Cán bộ thì đục khoét của nhân dân, ăn bớt của bộ đội, lợi dụng của chung của Chính phủ làm quỹ riêng, tiêu ít khai nhiều, kém lòng trách nhiệm, làm việc chậm chạp, ăn cắp thời giờ. Nhũng lạm là hành vi cán bộ lợi dụng, lạm dụng quyền hành nhũng nhiễu nhân dân để tham ô.
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, cán bộ có chức quyền nhũng nhiễu dân để tham ô là tham nhũng. Ngày nay, khái niệm này được định nghĩa như sau: “Tham nhũng là lợi dụng quyền hành để tham ô và nhũng nhiễu dân”[68,1172]. Pháp lệnh chống tham nhũng ngày 26/2/1998 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội cũng ghi rõ trong Điều 1: “Tham nhũng là hành vi của những người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ và quyền hạn đó để tham ô, hối lộ hoặc cố ý làm trái pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản Nhà nước, tập thể và cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức”[11]. Theo Luật phòng, chống tham nhũng được sửa đổi, bổ sung năm 2012: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”[45,8].
Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ, lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần góp vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp.Luật phòng chống tham nhũng quy định hành vi tham nhũng gồm 12 điểm sau: 1. Tham ô tài sản 2. Nhận hối lộ 3. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản 12 z 4.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; 5. Lạm dụng quyền hành trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; 6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; 7. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi; 8.
Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; 9. Lợi dụng chức vụ quyền hạn để sử dụng trái phép tài sản nhà nước vì vụ lợi; 10. Nhũng nhiễu vì vụ lợi; 11. Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi 12.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi. Trên thế giới, Liên Hợp Quốc đưa ra khái niệm tham nhũng với các dấu hiệu đặc trưng của nó: “Tham nhũng – đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng” với những dấu hiệu sau: 1. Người có chức vụ, quyền hạn trộm cắp, tham ô tài sản của nhà nước; 2. Lợi dụng địa vị công tác để trục lợi riêng quá đáng thông qua việc sử dụng không chính thức địa vị chính thức của mình; 3.
Tạo ra sự xung đột về thứ tự quan tâm giữa trách nhiệm đối với xã hội và lợi ích cá nhân để mưu cầu trục lợi” [46]. Nói chung, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn đó để trục lợi. Vì vậy, tham nhũng chỉ có ở những người có chức, quyền, dù to hay nhỏ, ở những người được giao thi hành phận sự công, dù chỉ là công chức thừa hành hay ở các quan chức có thẩm quyền cao, từ việc hàng ngày ở cơ sở đến những quyết sách ở các địa phương, đến tận cấp cao ở Trung ương.