phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có 3 chƣơng (6 tiết). Tổng quan tài liệu nghiên cứu Tƣ tƣởng giải thoát trong triết học Ấn Độ cổ đại là một đề tài đƣợc nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu, khảo sát. Đến nay, có một số công trình nghiên cứu, ở nhiều góc độ khác nhau đề cập đến đề tài này Bài viết “Vấn đề giải thoát trong triết học tôn giáo Ấn Độ cổ đại” trên tạp chí Triết học, số 1 năm 1997 của Doãn Chính đã khẳng định: trong triết lý đạo đức nhân sinh mang tính nhân bản sâu sắc của triết học tôn giáo Ấn Độ 4 cổ đại, tƣ tƣởng giải thoát đƣợc coi là một trong những vấn đề nổi bật của triết lý nhân sinh. Giải thoát luôn là mục đích, là nhiệm vụ tối cao của các trƣờng phái triết học tôn giáo Ấn Độ cổ đại.
Trong bài viết, tác giả đã lý giải “giải thoát” ở nhiều trƣờng phái khác nhau của triết học tôn giáo Ấn Độ cổ đại. Đồng thời, tác giả cũng nêu nên nguyên nhân của giải thoát là bắt nguồn từ n i khổ của con ngƣời. Bài viết có nhiều ý nghĩa trong việc hiểu đƣợc tƣ tƣởng giải thoát nhƣng lại chƣa đi sâu vào tƣ tƣởng giải thoát của một trƣờng phái tiêu biểu của triết học Ấn Độ cổ đại. Trong cuốn “Chân lý thuyết minh: Giải thoát kiếp làm người đau khổ để trở thành đấng siêu nhân (Phật – Thánh – Tiên)” của Nguyễn Văn Lƣơng (1966), Nhà xuất bản Sài Gòn.
Trong tác phẩm tác giả đề cập đến việc làm thế nào để trở thành Phật – Thánh – Tiên thông qua giải thoát. Tác giả chủ yếu bàn về giải thoát trên khía cạnh tôn giáo trong Phật giáo cũng nhƣ Thiên Chúa giáo. Tác phẩm mới đƣợc xuất bản năm 2010 mang tên “Giải thoát luận Phật giáo” của tác giả Nguyễn Thị Toan đã đi sâu luận giải tƣ tƣởng xuyên suốt triết học Phật giáo: giải thoát. Từ việc nghiên cứu quan niệm giải thoát trong Phật giáo làm tiền đề để tác giả nghiên cứu quan niệm về giải thoát trong Phật giáo Việt Nam và ảnh hƣởng của nó đối với đời sống ngƣời Việt Nam trong lịch sử.
Và sau đó ứng dụng vào Việt Nam đƣơng đại là ảnh hƣởng của quan niệm về giải thoát trong Phật giáo đối với đời sống ngƣời Việt Nam hiện nay. Thông qua những nghiên cứu, bài viết trên có thể thấy sự phong phú trong việc nghiên cứu các khía cạnh khác nhau của tƣ tƣởng giải thoát của các trƣờng phái thuộc hệ thống triết học phi chính thống. Vấn đề giải thoát không phải là vấn đề mới, cũng đã đƣợc nghiên cứu nhiều tuy nhiên chƣa có đề tài nào nghiên cứu về tƣ tƣởng giải thoát trong hệ thống triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại 5 Trong cuốn “Phật giáo triết học” của tác giả Phan Văn Hùm, viết năm 1953. Tác phẩm nghiên cứu Phật giáo dƣới góc độ triết học.
Tác phẩm bao gồm những nội dung sau: Một là, lịch sử phát triển của Phật giáo (quá trình ra đời, ngƣời sáng lập ra Phật giáo…). hai là, về triết học nguyên thủy Phật giáo, ba là, triết học của Phật giáo khi Phật nhập diệt, bốn là, triết học Phật giáo khi Phật qua đời. Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày cơ bản về những vấn đề trong triết học. Khi đề cập vấn đề này tác giả đã có nhiều nghiên cứu đặc sắc về Phật giáo.
Tuy nhiên, tác phẩm vẫn chƣa đề cập một cách khái quát, đầy đủ về tƣ tƣởng giải thoát trong Phật giáo. Các luận điểm đƣợc đề cập trong tác phẩm chƣa phân tích một cách kĩ lƣỡng. Tác giả Nguyễn Tài Thƣ viết bài “Phật giáo và thế giới quan người Việt trong lịch sử” trên tạp chí Triết học, số 2 năm 1986. Ở đây, tác giả đã quan tâm đến các vấn đề nhƣ: Phật giáo là một tôn giáo và tƣ tƣởng của Phật giáo gắn chặt với lịch sử tƣ tƣởng dân tộc đƣợc xem nhƣ là một nhu cầu tinh thần của ngƣời Việt.
Ngoài ra, còn khẳng định giá trị và hạn chế của Phật giáo trong phƣơng pháp tƣ duy của ngƣời Việt. Trên tạp chí Triết học số 4 năm 1992, Nguyễn Tài Thƣ với bài viết “Phật giáo và sự hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện nay”. Trong bài viết này, Nguyễn Tài Thƣ đã làm rõ hai vấn đề chính: Thứ nhất, tác giả nêu bật những n t nhân cách con ngƣời Việt Nam hiện nay mang dấu ấn Phật giáo. Thứ hai, tác giả cho ngƣời đọc thấy đƣợc những giá trị của Phật giáo trƣớc nhu cầu phát triển của đời sống tinh thần.
Nhƣ vậy, hai bài viết khác nhau Nguyễn Tài Thƣ đã nghiên cứu ảnh hƣởng của Phật giáo với hai khía cạnh khác nhau. Bài viết “Phật giáo và sự hình thành nhân cách con người” là sự ảnh hƣởng của Phật giáo đối với nhân cách và sự hình thành nhân cách con ngƣời. Bài viết thứ hai ông lại tìm hiểu 6 về thế giới quan ngƣời Việt trong lịch sử bị ảnh hƣởng của Phật giáo nhƣ thế nào. Tiếp theo, đến năm 1998 bài viết “Ảnh hưởng của Phật giáo đối với tư duy của người Việt trong lịch sử” của tác giả Lê Hữu Tuấn trên tạp chí Triết học.
Bài viết phân tích những ảnh hƣởng của Phật giáo đối với tƣ duy của ngƣời Việt. Trong bài viết này tác giả đã phân tích phƣơng pháp tƣ duy của ngƣời Việt, từ đó rút ra đặc điểm tƣ duy ngƣời Việt trong lịch sử. Cũng trên tạp chí Triết học, tác giả Nguyễn Thị Toan có bài viết “Về khái niệm niết bàn trong Phật giáo”, số 3, năm 2006. Trong bài viết này , tác giả phân tích khái niệm niết bàn trong Phật giáo và so sánh, phân biệt khái niệm niết bàn trong Phật giáo Tiểu thừa và Phật giáo Đại thừa.
Có thể nói, những công trình nghiên cứu trên đã tập hợp đƣợc nhiều tƣ liệu và trình bày một cách tƣơng đối có hệ thống các nội dung cơ bản về tƣ tƣởng giải thoát của Ấn Độ cổ đại ở những góc độ khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có công trình nào xuất bản và công bố trùng với hƣớng tiếp cận và nội dung đề tài “Tư tưởng giải thoát trong hệ thống triết học phi chính thống của Ấn Độ cổ đại ”. Điểm mới của đề tài ở ch , tìm hiểu nội dung tƣ tƣởng giải thoát trong hệ thống triết học phi chính thống và nêu ra các giải pháp phát huy giá trị tích cực của tƣ tƣởng giải thoát trong hệ thống triết học phi chính thống Ấn Độ cổ đại. 7 CHƢƠNG 1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỆ THỐNG TRIẾT HỌC PHI CHÍNH THỐNG CỦA ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI 1.
QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH 1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên Là một quốc gia thuộc Nam Á, Ấn Độ là một đất nƣớc vô cùng phong phú đa dạng, hội đủ mọi sắc thái về điều kiện tự nhiên. Đó là một bán đảo hình tam giác tƣởng chừng nhƣ một khối thống nhất đơn giản về địa hình, khí hậu nhƣng đi sâu vào tìm hiểu mới thấy đƣợc sự đa dạng và phức tạp của điều kiện tự nhiên. Ấn Độ là một tiểu lục địa vừa cách biệt với bên ngoài vừa chia cắt ở bên trong. Bán đảo hình tam giác này mặc dù nằm ở châu Á nhƣng lại bị ngăn cách với châu lục này bởi dãy núi cao nhất thế giới – Himalaya.
Dãy núi ẩn chứa biết bao câu chuyện huyền thoại linh thiêng. Những chƣớng ngại do tự nhiên mang lại đã khiến cho Ấn Độ trở thành một khu vực tƣơng đối riêng biệt, ít quan tâm đến thế giới bên ngoài. Tuy nhiên, đây lại là một yếu tố giúp cho đất nƣớc này bảo tồn đƣợc bản sắc văn hóa của mình – những yếu tố văn hóa truyền thống cổ xƣa nhất thế giới. Bên cạnh những sự tích, những bí ẩn về dãy núi Hymalaya, Ấn Độ còn có những cánh rừng bạt ngàn, bí ẩn không k m.
Ẩn dƣới những bóng rợp của cây rừng là những vị tu sĩ khổ hạnh. Họ rời b cuộc sống gia đình trần tục để ngồi dƣới gốc cây thiền định suy tƣ về vũ trụ bao la này. So với sự rộng lớn của cây rừng, với sự bao la của vũ trụ, họ cảm thấy con ngƣời chỉ là những sinh vật nh b , phù du; họ cảm thấy thế giới thì vô hạn, mà vì sao con ngƣời lại hữu hạn, đối mặt với n i đau khổ trầm luân, họ muốn tìm kiếm sự giải thoát kh i cuộc sống này, muốn tách cái Atman hòa nhập vào Brahman đạt đến niềm vui bất diệt giải thoát kh i sự luân hồi. Chính sự nƣơng tựa vào 8 nhau của thiên nhiên nhƣ vậy đã dạy cho ngƣời Ấn có một cách sống hòa hợp với thiên nhiên, con ngƣời và thiên nhiên là một, chứ không phải con ngƣời là trung tâm của vũ trụ, chinh phục thiên nhiên.
Từ dãy núi Hymalaya, hai dòng sông Ấn và sông Hằng tuôn chảy xuống đồng bằng nhƣ dòng sữa mẹ ngọt ngào nuôi lớn ngƣời dân Ấn Độ bằng nguồn phù sa dồi dào. Đất nƣớc có tên Ấn Độ cũng bắt nguồn từ dòng sông Ấn, nó chảy về phía Tây, đổ ra vịnh Bengal chia làm 5 nhánh. Đi xuống phía Nam là cao nguyên Dekkan rộng lớn với ngọn núi đông Gat và tây Gat chạy dọc hai bờ đông và tây của bán đảo Ấn Độ. Nhƣng thiên nhiên nơi đây khô cằn nên không thuận tiện cho việc sinh sống.
Chính vì thế mà miền Nam Ấn k m phát triển hơn miền Bắc Ấn. Núi cao, biển rộng, sông dài đã tạo thành tính đa dạng, phức tạp của văn hóa Ấn đồng thời in dấu khá đậm n t trong nền văn hóa, đặc biệt là tôn giáo. Vị trí địa lý là một yếu tố tạo nên tính chất vô cùng đa dạng của khí hậu Ấn Độ. Nơi đây hội đủ tất cả những yếu tố thời tiết khắc nghiệt nhất.
Từ cực nam Ấn Độ đến vùng hạ lƣu sống Ấn, sông Hằng khí hậu rất nóng. Ngƣợc lại, cực bắc Ấn Độ giáp chân núi Hymalaya lại rất lạnh, vào mùa đông có tuyết rơi. Ở vùng Tây Bắc có sa mạc Thar rộng lớn quanh năm hầu nhƣ không mƣa. Vì thế, vào mùa hè Ấn Độ có nhiệt độ rất cao, thời tiết rất nóng.
Nhƣng đến tháng 6 những trận mƣa to k o dài khiến mặt đất nhƣ một đầm lầy rộng lớn, nƣớc mƣa có thể làm ngập tràn bờ các dòng sông gây nên những cơn lũ kinh hoàng nhất.