Chương 1: Những nhân tố tác động đến sự hình thành, phát triển tư tưởng của Lương Văn Can Chương 2: Nội dung tư tưởng duy tân của Lương Văn Can 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN TƢ TƢỞNG CỦA LƢƠNG VĂN CAN 1.1 Bối cảnh trong và ngoài nƣớc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX 1.1 Tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX a. Xã hội Việt Nam là xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Trong những thập kỷ cuối của thế kỷ XIX, chế độ phong kiến ở Việt Nam đang bước sang giai đoạn khủng hoảng suy vong, tan rã. Nền kinh tế chủ yếu của Việt Nam là kinh tế nông nghiệp lạc hậu, trì trệ do chính sách “bế quan tỏa cảng” của triều Nguyễn. Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, tình hình thế giới đầy biến động đã tác động mạnh mẽ vào nước ta.
Chủ nghĩa đế quốc bằng việc bành trướng ra thị trường khắp các châu lục, làm cho mâu thuẫn giai cấp ở các nước cũng như mâu thuẫn giữa các nước đế quốc và thuộc địa ngày càng gay gắt. Và Việt Nam cũng buộc đón “một vị khách không mời mà đến” khi năm 1858, thực dân Pháp nổ súng đầu tiên tại Đà Nẵng, đánh dấu sự xâm lược nước ta và dần dần đặt ách thống trị hết sức hà khắc lên nhân dân ta, biến nước ta thành một đất nước thuộc địa, nửa phong kiến. Hiệp ước Hácmăng (1883) và Patơnốt (1884) ký giữa triều đình Huế và chính phủ Pháp dưới áp lực quân sự của tư bản Pháp đã đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của nhà nước phong kiến Việt Nam và sự đầu hàng của triều Nguyễn trước sự tấn công của chủ nghĩa tư bản phương Tây, công nhận sự bảo hộ lâu dài của người Pháp ở Việt Nam. Sau khi cơ bản hoàn thành “công cuộc chinh phục và bình định Việt Nam”, thực dân Pháp hầu như đã thắng thế tuyệt đối.
Dựa vào sức mạnh quân sự và chính trị đã được xác lập ở các nước thuộc địa, kết hợp với đà phát triển mới của chủ nghĩa đế quốc Pháp từ những năm 80 của thế kỷ trước 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sang những thập kỷ đầu của thế kỷ XX, thực dân Pháp đã bắt tay ngay vào việc khai thác, bóc lột nhân dân Việt Nam một cách ráo riết để thực hiện mục tiêu kinh tế – mục tiêu tối thượng của hành vi xâm lược. Dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897–1914) của thực dân Pháp, cơ cấu kinh tế Việt Nam đã bắt đầu thay đổi. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được đưa vào Việt Nam phối hợp với quan hệ cũ bóc lột phong kiến, và trong bối cảnh đó Việt Nam đã trở thành một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến ngày càng rõ rệt, bảo đảm siêu lợi nhuận cao và nhanh cho chủ nghĩa đế quốc Pháp. Về kinh tế: Thực dân Pháp không xóa bỏ chế độ phong kiến mà lợi dụng nó để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa.
Vì vậy, sự ra đời của hình thức tư bản ở nước ta không phải trên cơ sở tiêu diệt chế độ phong kiến, ngược lại quan hệ kinh tế cũ được duy trì và củng cố. Điều đó làm chậm sự phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta. Thực dân Pháp thực hiện thống nhất tài chính toàn Đông Dương, nguồn thu chủ yếu là các loại thuế đè nặng lên nhân dân Đông Dương. Tư bản nước ngoài đầu tư chủ yếu vào Việt Nam là của Pháp, nguồn vốn tập trung cho hai ngành nông nghiệp và công nghiệp.
Các ngành công nghiệp khai khoáng, sửa chữa, chế biến, lắp ráp, khai mỏ,… lần lượt ra đời, hình thành một số khu công nghiệp như Hồng Gai, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lào Cai… Hệ thống giao thông đường sắt, đường thủy, đường bộ, hàng không,… được thực dân Pháp đầu tư xây dựng phục vụ cho việc vận chuyển các sản phẩm và hàng hóa Pháp khai thác, đồng thời là phương tiện để đưa quân đội đến những nơi cần thiết đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân. Thương nghiệp cũng du nhập những hình thức phân phối khác hẳn thời quân chủ, đó là các cửa hàng đại lý chuyên doanh, các cửa hiệu bách hóa, hiệu buôn… Gắn với những nhân tố kinh tế mới ấy là sự quản lý các đô thị theo kiểu phương Tây với nhiều công trình kiến trúc mới. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở nông thôn, chính sách tập trung và cướp đoạt ruộng đất lập các đồn điền cao su, cà phê của chính quyền thực dân đã làm cho cơ cấu sở hữu đất đai thay đổi và nông thôn Việt Nam bắt đầu rạn vỡ dưới tác động này. Như vậy, sự du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa của thực dân Pháp vào nước ta đầu thế kỷ XX dù dưới hình thức thực dân, phân tán, nặng về vơ vét bóc lột nhưng đã làm xuất hiện các nhân tố kinh tế mới mà hàng ngàn năm phong kiến chưa xuất hiện.
Kinh tế Việt Nam có bước chuyển biến trên các lĩnh vực, nhưng lại đặt trong vòng kiềm tỏa của các quan hệ kinh tế cũ nên tạo ra một cơ cấu kinh tế què quặt, mất cân đối dẫn đến sự phân hóa thiếu triệt để trong cơ cấu giai cấp. Về chính trị: Thực dân Pháp chủ trương duy trì chế độ thực dân, nửa phong kiến, dùng bộ máy phong kiến chuyên chế lạc hậu làm công cụ thống trị, đàn áp các phong trào phản kháng của nhân dân ta. Với kinh nghiệm lọc lõi của tên trùm thực dân, để cai trị dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước từ ngàn năm với sức mạnh đoàn kết to lớn, thực dân Pháp đã thực thi những chính sách thâm độc, như “chia để trị” đặt ra ba chế độ chính trị khác nhau cho ba miền đất nước, áp dụng chính sách “Dùng người Việt Nam trị người Việt Nam”, duy trì bộ máy vua quan phong kiến làm công cụ áp bức nhân dân. “Để bóc lột nhân dân lao động, chủ yếu là nông dân nước ta, đế quốc Pháp không phá bỏ chế độ phong kiến, để cho chủ nghĩa tư bản phát triển tự do, trái lại chúng rất cần duy trì chế độ phong kiến đó.
Chúng nuôi dưỡng chế độ phong kiến chính là để bóc lột theo lối tư bản chủ nghĩa một cách nặng nề hơn, mạnh và nhiều hơn” [18, 22]. Đối với làng xã cổ truyền, chúng duy trì tổ chức bộ máy quản lý cũ kỹ lạc hậu, cột chặt nông thôn Việt Nam trong vòng nô dịch, lệ thuộc. Thực dân Pháp đã không “quấy rầy” hay “phá hoại” các tổ chức làng xã cổ truyền mà biến chúng thành công cụ bình định và cai trị nước ta. Cùng với việc tận dụng triệt để triều đình phong kiến bất lực, thông qua bộ máy của nó, để nắm lấy xã thôn, chúng thả lỏng cho bọn hương chức, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cường hào mặc sức bóc lột, đàn áp người nông dân.
Chúng ý thức rõ ràng về khả năng sử dụng các công cụ phong kiến ở nông thôn nước ta thời đó. “Cơ cấu vững chắc của làng xã An Nam được hoàn toàn tôn trọng và còn cần phải được duy trì triệt để sau này cho việc cai trị của chúng ta được dễ dàng. Nhờ có tổ chức này, trước mặt chúng ta không phải hàng triệu cá nhân cần phải chú trọng đến nhu cầu, quyền lợi, tình cảm, mà chỉ còn lại vài ngàn tập thể tổ chức chặt chẽ và có kỷ luật, liên hệ với chúng ta theo đơn vị từng khối mà chúng ta chỉ cần biết có hội đồng kỳ mục mà thôi. Tổ chức cộng hòa bé nhỏ tự trị trong giới hạn những quyền lợi địa phương của làng xã An Nam bớt cho Chính phủ phần lớn những khó khăn và công việc cần thiết…” [40, 29].
Với mục đích nô dịch và bóc lột về kinh tế, thực dân Pháp một mặt duy trì các quan hệ kinh tế cũ, mặt khác chúng tìm mọi cách để đem một cơ cấu kinh tế đế quốc bao trùm lên cơ cấu kinh tế cũ. Sau khi thực thi chính sách khai thác thuộc địa, kinh tế Việt Nam trở thành nền kinh tế bị hút vào quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, nhưng là thứ “chủ nghĩa tư bản sân sau”, là một thị trường độc chiếm, là nơi cung cấp nguyên liệu, nhân công rẻ mạt, là nơi xuất các vốn thừa của tư bản Pháp. Về văn hóa – giáo dục: Thực dân Pháp hiểu rõ sức mạnh súng đạn chỉ nhất thời khuất phục được người Việt Nam, cai trị bằng văn hóa sẽ lâu bền hơn, trong đó giáo dục là một vũ khí lợi hại nhất. Do vậy, ngay từ khi chiếm được Việt Nam, Pháp đã chú trọng xây dựng nền văn hóa – giáo dục thực dân cho người bản xứ.
Chúng chủ trương duy trì chế độ vua quan với nền Nho học bảo thủ, lạc hậu để mê hoặc, ru ngủ dân trí Việt Nam. Nhưng, “từ truyền thống tốt đẹp của dân tộc lại nảy nở tại những vùng “đất học” đội ngũ trí thức, văn thân có tinh thần yêu nước, có sức phản kháng chống lại sức mạnh bạo tàn của chủ nghĩa thực dân chuyên chế” [40, 30]. Nhận thức được mối quan ngại đó, thực dân Pháp tìm mọi cách từng bước loại bỏ ảnh hưởng to lớn của các trí thức văn thân, loại bỏ ảnh hưởng của các giá trị văn hóa dân tộc, thiết lập nền giáo dục ngu dân và đồng hóa. Năm 1906, Toàn quyền 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Paul Beau chủ trương tiến hành cải cách giáo dục toàn liên bang và Nha học chính Đông Dương.
Đồng thời, trong năm đó, triều đình Huế ra chỉ dụ thừa nhận nền giáo dục Pháp – Việt của thực dân Pháp. Mục tiêu của nền giáo dục nhằm tuyên truyền cho chiêu bài khai hóa văn minh, đào tạo đội ngũ những người thừa hành các nhiệm vụ và khai thác thuộc địa. Tuy vậy, nền giáo dục mới không mấy kết quả, nó gặp phải sự tẩy chay của người Việt Nam. Với người Việt Nam, yêu nước là chống đối và bất hợp tác với thực dân Pháp.
Việc đi học ở trường Pháp khác nào là sự phản bội Tổ quốc. Sẽ là một nghịch lý lớn khi các sĩ phu vừa cho con đến trường Tây học lại vừa cầm súng đánh Tây. Pháp không thực hiện được ý đồ lợi dụng giáo dục phong kiến cũ để phục vụ cho công cuộc thực dân hóa, cuối cùng, chúng ra lệnh bãi bỏ khoa cử ở Bắc Kỳ vào năm 1915 và ở Trung Kỳ vào năm 1918.