Những Tư Tưởng Cải Cách Của Nguyễn Trường Tộ Và Ý Nghĩa Của Nó Trong Công Cuộc Đổi Mới Ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu những tư tưởng cải cách của nguyễn trường tộ và ý nghĩa của nó trong công cuộc đổi mới ở việt nam, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Chuyên ngành

Triết học

Tác giả

Trần Đức Khóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2019

73
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ

1.1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

1.2. Cuộc đời của Nguyễn Trường Tộ

1.3. Những tiền đề lý luận góp phần hình thành tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ

2.1. Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về kinh tế

2.2. Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về chính trị - xã hội

2.3. Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về văn hóa - giáo dục

2.4. Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ về quốc phòng an ninh - ngoại giao

3. CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Thành tựu và hạn chế trong công cuộc đổi mới từ 1986 đến nay

3.2. Vận dụng tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Tư Tưởng Cải Cách Nguyễn Trường Tộ Giá Trị Bối Cảnh

Bài viết này khám phá tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ, một nhà tư tưởng lớn của Việt Nam thế kỷ XIX. Ông không chỉ là một nhà cải cách nổi tiếng mà còn là một người Công giáo yêu nước tha thiết. Mặc dù bị hạn chế bởi thế giới quan duy tâm tôn giáo, Nguyễn Trường Tộ đã có những tư tưởng triết học đặc sắc về nhân sinh, xã hội. Bên cạnh đó, ông còn đưa ra không ít những kiến nghị trong nhiều lĩnh vực, từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội, quốc phòng, ngoại giao. Bài viết sẽ phân tích bối cảnh lịch sử, nội dung các đề xuất cải cáchý nghĩa của chúng đối với công cuộc đổi mới hiện nay ở Việt Nam. Tư tưởng tiến bộ của ông vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hội nhập quốc tếphát triển đất nước hiện nay.

1.1. Bối Cảnh Lịch Sử Việt Nam Thế Kỷ XIX Khủng Hoảng Toàn Diện

Nửa sau thế kỷ XIX, Việt Nam dưới triều Nguyễn lâm vào khủng hoảng toàn diện. Các vua triều Nguyễn đã thực hiện những chính sách sai lầm về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, làm cho đất nước suy yếu. Trong nông nghiệp, diện tích canh tác không đủ bù đắp ruộng hoang, kỹ thuật lạc hậu, năng suất thấp. Thủ công nghiệp bị chiến tranh tàn phá. Công nghiệp không phát triển. Thương nghiệp bị tư bản Pháp thao túng. Tình hình kinh tế suy đốn dẫn đến tài chính nhà nước khốn quẫn, đời sống nhân dân điêu linh. Theo Trương Quốc Dụng, năm 1860, Nguyễn Tri Phương than: “Quân và dân của đã hết sức yếu”. Đây là bối cảnh hình thành tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ.

1.2. Sự Hình Thành Các Phái Chủ Hòa Chủ Chiến Thủ Cựu Duy Tân

Trong bối cảnh đất nước bị xâm lược, tầng lớp trí thức Việt Nam phân hóa thành nhiều phái. Có phái chủ hòa, chủ chiến, thủ cựu và duy tân. Một số trí thức đã mạnh dạn bước qua nghi lễ phong kiến để lên tiếng đưa ra các ý kiến của mình nhằm thực hiện duy tân, cải cách đưa đất nước phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, kết hợp canh tân đất nước với bảo vệ độc lập dân tộc. Nguyễn Trường Tộ thuộc phái duy tân, với tư tưởng vượt trội về tính toàn diện và khả thi, tầm ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài của các bản điều trần, đặc biệt là quan điểm về sự kết hợp giữa canh tân đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

II. Phân Tích Tư Tưởng Cải Cách Kinh Tế Của Nguyễn Trường Tộ Chi Tiết

Nguyễn Trường Tộ nhận thức rõ tầm quan trọng của kinh tế trong việc phát triển đất nước. Ông đề xuất nhiều giải pháp cải cách kinh tế toàn diện, từ nông nghiệp, công nghiệp đến thương nghiệp. Ông chủ trương phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa, học hỏi kỹ thuật và công nghệ của phương Tây. Các đề xuất của ông tập trung vào việc khai thác tài nguyên, phát triển công nghiệp, mở rộng thương mại, cải thiện hệ thống tài chính, tiền tệ. Tư tưởng này thể hiện tầm nhìn xa trông rộng và tinh thần đổi mới của Nguyễn Trường Tộ trong bối cảnh Việt Nam đang bị tụt hậu so với các nước phương Tây.

2.1. Cải Cách Nông Nghiệp Đổi Mới Kỹ Thuật Khai Hoang Đất Đai

Nguyễn Trường Tộ đề xuất cải cách nông nghiệp bằng cách đổi mới kỹ thuật canh tác, sử dụng máy móc, phân bón, giống mới. Ông khuyến khích khai hoang đất đai, mở rộng diện tích canh tác. Ông cũng đề nghị xây dựng hệ thống thủy lợi để đảm bảo tưới tiêu cho nông nghiệp. Những đề xuất này nhằm nâng cao năng suất nông nghiệp, cải thiện đời sống của người nông dân và tạo nguồn cung cấp lương thực ổn định cho đất nước. Ông nhận thấy rõ sự lạc hậu của nông nghiệp truyền thống và sự cần thiết phải áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

2.2. Phát Triển Công Nghiệp Khai Thác Tài Nguyên Xây Dựng Nhà Máy

Nguyễn Trường Tộ chủ trương phát triển công nghiệp bằng cách khai thác tài nguyên thiên nhiên, xây dựng nhà máy, xí nghiệp. Ông đề nghị mời chuyên gia nước ngoài, du học sinh để học hỏi kỹ thuật và công nghệ. Ông cũng khuyến khích tư nhân đầu tư vào công nghiệp. Những đề xuất này nhằm tạo ra một nền công nghiệp hiện đại, đáp ứng nhu cầu trong nước và cạnh tranh với các nước khác. Ông nhận thấy rõ vai trò quan trọng của công nghiệp trong việc phát triển kinh tế và nâng cao sức mạnh của đất nước.

2.3. Mở Rộng Thương Mại Tự Do Buôn Bán Hội Nhập Quốc Tế

Nguyễn Trường Tộ đề xuất mở rộng thương mại bằng cách tự do buôn bán, dỡ bỏ các rào cản thương mại, khuyến khích xuất nhập khẩu. Ông đề nghị xây dựng cảng biển, đường sắt, đường bộ để tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại. Ông cũng chủ trương hội nhập quốc tế, tham gia vào các tổ chức thương mại quốc tế. Những đề xuất này nhằm thúc đẩy thương mại phát triển, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Ông nhận thấy rõ vai trò quan trọng của thương mại trong việc phát triển kinh tếhội nhập quốc tế.

III. Tư Tưởng Cải Cách Chính Trị Xã Hội Dân Chủ Pháp Quyền

Nguyễn Trường Tộ không chỉ quan tâm đến kinh tế mà còn chú trọng đến cải cách chính trị - xã hội. Ông đề xuất xây dựng một nhà nước pháp quyền, đảm bảo quyền tự do, dân chủ của người dân. Ông chủ trương cải cách bộ máy hành chính, loại bỏ tham nhũng, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Ông cũng đề nghị cải thiện đời sống của người dân, giảm bớt bất công xã hội. Tư tưởng này thể hiện tinh thần dân chủ và nhân văn sâu sắc của Nguyễn Trường Tộ trong bối cảnh xã hội Việt Nam còn nhiều bất cập.

3.1. Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Đề Cao Luật Pháp Công Bằng

Nguyễn Trường Tộ chủ trương xây dựng một nhà nước pháp quyền, trong đó luật pháp được đề cao và áp dụng công bằng cho mọi người. Ông đề nghị ban hành luật pháp rõ ràng, minh bạch, bảo vệ quyền lợi của người dân. Ông cũng đề xuất thành lập tòa án độc lập, xét xử công minh. Những đề xuất này nhằm tạo ra một môi trường pháp lý ổn định, công bằng, thúc đẩy phát triển kinh tế và xã hội. Ông nhận thấy rõ sự cần thiết phải xây dựng một nhà nước pháp quyền để đảm bảo dân chủcông bằng xã hội.

3.2. Cải Cách Bộ Máy Hành Chính Loại Bỏ Tham Nhũng Nâng Cao Hiệu Quả

Nguyễn Trường Tộ đề xuất cải cách bộ máy hành chính bằng cách loại bỏ tham nhũng, nâng cao trình độ của quan lại, cải thiện quy trình làm việc. Ông đề nghị tuyển chọn quan lại thông qua thi cử, đánh giá năng lực dựa trên hiệu quả công việc. Ông cũng chủ trương phân quyền, phân cấp, giảm bớt sự tập trung quyền lực. Những đề xuất này nhằm xây dựng một bộ máy hành chính trong sạch, hiệu quả, phục vụ người dân. Ông nhận thấy rõ sự trì trệ, tham nhũng của bộ máy hành chính đương thời và sự cần thiết phải cải cách để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

IV. Cải Cách Văn Hóa Giáo Dục Nâng Cao Dân Trí Mở Mang Tri Thức

Nguyễn Trường Tộ đặc biệt coi trọng văn hóagiáo dục. Ông đề xuất cải cách giáo dục bằng cách đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, mở trường học theo kiểu phương Tây. Ông chủ trương nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước. Ông cũng đề nghị bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng này thể hiện tầm nhìn chiến lược của Nguyễn Trường Tộ về vai trò của văn hóagiáo dục trong sự phát triển bền vững của đất nước.

4.1. Đổi Mới Giáo Dục Học Tập Phương Tây Nâng Cao Dân Trí

Nguyễn Trường Tộ chủ trương đổi mới giáo dục bằng cách học tập phương Tây, đưa khoa học kỹ thuật vào chương trình giảng dạy. Ông đề nghị mở trường học theo kiểu phương Tây, mời giáo viên nước ngoài, gửi học sinh đi du học. Ông cũng chủ trương dạy chữ quốc ngữ, phổ cập giáo dục cho mọi người dân. Những đề xuất này nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài cho đất nước, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển trong bối cảnh mới. Ông nhận thấy rõ sự lạc hậu của giáo dục truyền thống và sự cần thiết phải đổi mới để theo kịp thời đại.

4.2. Bảo Tồn Văn Hóa Phát Huy Truyền Thống Tiếp Thu Tinh Hoa

Nguyễn Trường Tộ đề nghị bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Ông chủ trương nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn các di sản văn hóa, nghệ thuật. Ông cũng khuyến khích sáng tạo văn hóa, nghệ thuật mới, phù hợp với thời đại. Những đề xuất này nhằm xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần vào sự phát triển toàn diện của đất nước. Ông nhận thấy rõ vai trò quan trọng của văn hóa trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc và thúc đẩy sự phát triển xã hội.

V. Tư Tưởng Quốc Phòng Ngoại Giao Tự Cường Hội Nhập Quốc Tế

Nguyễn Trường Tộ nhận thức rõ tầm quan trọng của quốc phòngngoại giao trong việc bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước. Ông đề xuất tăng cường sức mạnh quân sự, xây dựng quân đội hiện đại, củng cố quốc phòng. Ông chủ trương mở rộng quan hệ ngoại giao, hội nhập quốc tế, học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển. Tư tưởng này thể hiện tinh thần yêu nước, tự cường và tầm nhìn chiến lược của Nguyễn Trường Tộ trong bối cảnh Việt Nam đang phải đối mặt với nguy cơ xâm lược.

5.1. Tăng Cường Quốc Phòng Xây Dựng Quân Đội Hiện Đại Tự Cường

Nguyễn Trường Tộ chủ trương tăng cường quốc phòng bằng cách xây dựng quân đội hiện đại, trang bị vũ khí tiên tiến, huấn luyện quân sự bài bản. Ông đề nghị mời chuyên gia quân sự nước ngoài, gửi sĩ quan đi học tập ở nước ngoài. Ông cũng khuyến khích sản xuất vũ khí trong nước. Những đề xuất này nhằm nâng cao sức mạnh quân sự của đất nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền. Ông nhận thấy rõ sự yếu kém của quân đội đương thời và sự cần thiết phải xây dựng một lực lượng quốc phòng mạnh mẽ để bảo vệ đất nước.

5.2. Mở Rộng Ngoại Giao Hội Nhập Quốc Tế Học Hỏi Kinh Nghiệm

Nguyễn Trường Tộ đề xuất mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước, đặc biệt là các nước phương Tây. Ông chủ trương hội nhập quốc tế, tham gia vào các tổ chức quốc tế, học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển. Ông cũng đề nghị cử đại diện ngoại giao đến các nước để tìm hiểu tình hình và xây dựng quan hệ. Những đề xuất này nhằm tạo dựng vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ của các nước và học hỏi kinh nghiệm phát triển. Ông nhận thấy rõ vai trò quan trọng của ngoại giao trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia và thúc đẩy sự phát triển.

VI. Ý Nghĩa Tư Tưởng Nguyễn Trường Tộ Bài Học Đổi Mới Việt Nam

Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộý nghĩa to lớn đối với công cuộc đổi mớiViệt Nam hiện nay. Những tư tưởng về phát triển kinh tế, xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách giáo dục, tăng cường quốc phòng, mở rộng ngoại giao vẫn còn nguyên giá trị. Việc nghiên cứu và vận dụng tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ giúp chúng ta có thêm kinh nghiệm, bài học quý báu trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của Nguyễn Trường Tộ là nguồn cảm hứng lớn cho các thế hệ người Việt Nam.

6.1. Vận Dụng Tư Tưởng Cải Cách Kinh Tế Phát Triển Bền Vững

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, chúng ta có thể vận dụng tư tưởng cải cách kinh tế của Nguyễn Trường Tộ bằng cách đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng bền vững, chú trọng ứng dụng khoa học kỹ thuật, bảo vệ môi trường. Chúng ta cần xây dựng một nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, đồng thời giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ giúp chúng ta nhận thức rõ tầm quan trọng của kinh tế trong việc nâng cao đời sống của người dân và xây dựng một đất nước giàu mạnh.

6.2. Vận Dụng Tư Tưởng Cải Cách Chính Trị Xã Hội Dân Chủ Hóa

Chúng ta có thể vận dụng tư tưởng cải cách chính trị - xã hội của Nguyễn Trường Tộ bằng cách tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền tự do, dân chủ của người dân. Chúng ta cần cải cách bộ máy hành chính, loại bỏ tham nhũng, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ giúp chúng ta nhận thức rõ tầm quan trọng của dân chủpháp quyền trong việc xây dựng một xã hội công bằng, văn minh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ những tư tưởng cải cách của nguyễn trường tộ và ý nghĩa của nó trong công cuộc đổi mới ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận được chia làm 3 chương và 9 tiết. 5 c NỘI DUNG Chƣơng 1. SỰ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CẢI CÁCH CỦA NGUYỄN TRƢỜNG TỘ 1. Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX 1.

Về kinh tế Trong nông nghiệp: Diện tích canh tác đã tăng một cách đáng kể, tuy vậy vẫn không bù lại được số ruộng bị bỏ hoang do thiên tai, mất mùa, nhiều nông dân đã phải đi lưu tán. Sản xuất nông nghiệp vẫn mang tính độc canh, đại đa số bộ phận diện tích đất canh tác đều trồng lúa. Do kỹ thuật lạc hậu nên năng suất không cao (khoảng 9 tạ/ha). Đến cuối những năm cuối thế kỷ XIX, tư bản Pháp tăng cường cướp đoạt ruộng đất của nông dân: “Năm 1888, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cho bọn địa chủ thực dân được quyền lập các đồn điền mà chúng gọi là đất vô chủ” [4; tr.

Tiếp đến năm 1897, triều đình Huế lại ký điều ước nhượng cho Pháp quyền khai khẩn đất hoang. Ngày 1/5/1900, thực dân Pháp ra nghị định phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất của vua Nguyễn. Từ đây thực dân Pháp tha hồ tước đoạt ruộng đất của nhân dân ta. “Năm 1900, diện tích của các đồn điền người Âu là 322.000ha, trong đó ở Nam Kỳ là 78.

Phương thức kinh doanh trong các đồn điền của Pháp chủ yếu vẫn là phát canh thu tô, thực dân Pháp ít quan tâm đến kỹ thuật khiến cho đất đai ngày càng nghèo nàn, sức lao động trở nên kiệt quệ. Trong thủ công nghiệp: Đến giữa thế kỷ XIX, thủ công nghiệp Việt Nam đã khá phát triển. Một số nghề có xu hướng tách khỏi nông nghiệp hình thành ra các làng nghề hay phố nghề: Nghề gốm ở Bát Tràng, Thổ Hà; nghề dệt ở Vạn Phúc, La Khê (Hà Đông)… Đến khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam thì thủ công nghiệp Việt Nam bắt đầu chịu sự tác động và chi phối của chiến tranh như nghề đóng tàu thuyền, làm vũ khí…Bên cạnh các xưởng thủ công do nhà nước quản lý, một số xưởng thủ công dân gian đã mọc lên ở nhiều nơi. Nhìn chung vào cuối thế kỷ XIX, nền sản xuất thủ công nghiệp nước ta bắt 6 c đầu có những thay đổi, hoặc do nhu cầu chiến tranh, hoặc do nhu cầu của công cuộc đô hộ bóc lột của tư bản Pháp.

Các hoạt động thủ công vẫn còn gắn chặt với nông nghiệp, tồn tại với tư cách là nghề phụ gia đình. Trong công nghiệp: Trong khi kìm hãm nông nghiệp trong vòng lạc hậu, thực dân Pháp đầu tư vào một số ngành kinh tế để khẳng định vị trí của tư bản Pháp ở Đông Dương. Trước hết là đầu tư những ngành khai mỏ: thiếc, kẽm, sắt, thủy ngân…đặc biệt là than. Trong lĩnh vực khai thác mỏ, mỏ than đặc biệt chú ý, tổng sản lượng khai thác than năm 1892 là 95.000 tấn, đến năm 1900 là 201.

Thực dân Pháp chú trọng xây dựng và phát triển các ngành công nghiệp, vừa thỏa mãn nhu cầu thị trường Đông Dương và kiếm được nhiều lợi nhuận, vừa có khả năng cạnh tranh ở thị trường Viễn Đông. Phương thức kinh doanh chủ yếu là tận dụng nguồn nhân công rẻ mạt, sử dụng đến mức tối đa sức lao động thủ công kết hợp với cơ giới, kết hợp bóc lột tư bản với phong kiến, nhờ đó mà lợi nhuận thu được không ngừng tăng lên. Một nền công nghiệp đã xuất hiện ở nước ta nhưng đó chỉ là một nền công nghiệp phiến diện, què quặt, không có công nghiệp nặng, thể hiện rõ tính chất thuộc địa. Trong thương nghiệp: Trong lĩnh vực thương nghiệp, Việt Nam là thị trường độc chiếm của tư bản Pháp: “Hàng hóa Pháp nhập vào Việt Nam chỉ phải đóng thuế 2,5% trong khi hàng hóa các nước khác phải đóng thuế 5% giá trị” [4; tr.

Ngoài ra thực dân Pháp còn ra sức chèn ép thương nhân Việt Nam, dung dưỡng cho thương nhân Hoa Kiều làm đại lý cung ứng hàng xuất khẩu, buôn bán và tiêu thụ hàng hóa Pháp. Ngày 11/1/1892, Pháp ra một đạo luật mới, quy định hàng hóa Pháp hoàn toàn được miễn thuế còn hàng hóa nước khác phải đóng từ 25% đến 120% giá trị khi nhập khẩu vào Việt Nam. Chính sách độc quyền thương mại của thực dân Pháp làm bần cùng hóa nhân dân lao động và bóp chết các ngành tiểu thủ công nghiệp Việt Nam. Toàn bộ chính sách đầu tư, khai thác bóc lột của thực dân Pháp ở Đông Dương là một chính sách hẹp hòi, ích kỷ, thiển cận nhằm trói buộc nền kinh tế nước ta phụ thuộc vào nền kinh tế Pháp.

Đây là chính sách cướp bóc của thực dân Pháp bằng 7 c phương pháp bóc lột tư bản chủ nghĩa kết hợp với hình thức bóc lột dã man thời trung cổ. Tình hình kinh tế suy đốn như vậy, cho nên nền tài chính của nhà nước cũng bị khốn quẫn. Ngay từ khi Tự Đức lên ngôi, Trương Quốc Dụng đã tâu: “Tài lực của nhân dân không bằng 5,6 phần 10 năm trước”[6; tr. Năm 1860 Nguyễn Tri Phương than: “Quân và dân của đã hết sức yếu”[6; tr.

Dưới triều Nguyễn, thời Gia Long, Minh Mạng, nhà nước còn đúc được tiền, nhưng đến thời Tự Đức nhà nước không đúc được tiền nữa nên tiền đồng, tiền kẽm rất ít, phải nhờ thương nhân Trung Hoa đúc một hạng tiền lấy niên hiệu Tự Đức vừa mỏng vừa xấu, gọi là tiền sếnh, nhân dân không ai chịu tiêu. Đời sống của nhân dân lại càng điêu linh, cực khổ. Trong lúc đó, nhà Nguyễn vẫn tăng cường bóc lột nhân dân để thỏa mãn cuộc sống xa hoa, phung phí của chúng và nộp chiến phí cho giặc. Chúng tìm mọi cách để bóc lột nhân dân và kiếm tiền như đánh thuế rượu, bỏ lệ cấm thuốc phiện để đánh thuế.

Bộ máy quan liêu đã thối nát lại càng trở nên đồi bại. Chúng chỉ biết tham ô vơ vét và bóc lột nhân dân. Cuộc sống của người dân đã khổ cực lại càng thêm cực khổ. Về chính trị - xã hội Về chính trị, chúng tiếp tục thi hành chính sách chuyên chế với bộ máy đàn áp nặng nề.

Mọi quyền hành đều thâu tóm trong tay các viên quan cai trị người Pháp, từ toàn quyền Đông Dương, thống đốc Nam Kỳ, khâm sứ Trung Kỳ, thống sứ Bắc Kỳ, công sứ các tỉnh, đến các bộ máy quân đội, cảnh sát, toà án.; biến vua quan Nam triều thành bù nhìn, tay sai. Chúng bóp nghẹt tự do, dân chủ, thẳng tay đàn áp, khủng bố, dìm các cuộc đấu tranh của dân ta trong biển máu. Để phục vụ cho công cuộc khai thác và bóc lột kinh tế, thực dân Pháp đã tiến hành xây dựng nhà nước thống nhất, chặt chẽ, đồng thời thực hiện thủ đoạn “chia để trị” và “dùng người Việt trị người Việt”. Ngày 17/10/1887, Tổng thống Pháp kí sắc lệnh thành lập Liên bang Đông Dương gồm các xứ Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và Campuchia, đến ngày 19/4/1899, tổng thống Pháp ra sắc lệnh sáp nhập thêm Lào vào Liên Bang Đông 8 c Dương.

Đứng đầu Liên bang Đông Dương là viên toàn quyền người Pháp, đại diện cho chính phủ Pháp trực tiếp cai trị Đông Dương về mọi mặt. Dưới hội đồng tối cao Đông Dương, có các cơ quan Trung ương về quân sự, dân sự, pháp lý, thanh tra, cảnh sát, tài chính…đặc trách các công việc giúp toàn quyền điều hành bộ máy thống trị và khai thác bóc lột. Việc củng cố chính quyền Liên bang gắn với việc củng cố chính quyền các xứ. Thủ đoạn “chia để trị” là một trong những nguyên tắc chỉ đạo hành động của chúng.

Nước Việt Nam chia làm ba xứ với ba chế độ khác nhau. Nam kỳ là xứ thuộc địa gồm 20 tỉnh do thực dân trực tiếp cai trị về mọi mặt. Trung Kỳ là xứ bảo hộ chia làm 14 tỉnh do một viên quan khâm xứ Pháp đứng đầu, triều đình Huế vẫn được duy trì với tên gọi “chính phủ Nam triều”. Nhưng mọi quyền hành đều ở Tòa Khâm sứ do viên Khâm sứ Pháp đứng đầu.

Ngoài ra còn có hội đồng bảo hộ gồm một hay hai đại diện của phòng Thương mại hay Canh nông, hai đại diện của Viện Cơ mật. Bắc Kỳ là xứ “nửa bảo hộ” do một viên thống sứ người Pháp đứng đầu. Bên cạnh Phủ Thống sứ có Hội đồng bảo hộ và hai Phòng Thương mại và Canh nông ở hai thành phố lớn Hà Nội và Hải Phòng. Bắc Kỳ có 26 tỉnh, 35 đại lí, 4 đạo quan binh và hai thành phố.

Hệ thống chính quyền ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ từ cấp tỉnh trở xuống về đại thể giống nhau. Đứng đầu mỗi tỉnh là một viên Công sứ người Pháp. Bên cạnh tòa Công sứ, hệ thống tổ chức quan lại cũ vẫn được duy trì. Tất cả các quan “Nam triều” này chỉ đóng vai trò thừa hành những quyết định của Tòa Công sứ Pháp.

Mỗi tỉnh chia làm nhiều phủ, huyện bao gồm các tổng, xã, làng, đạo, châu đối với các tỉnh miền núi là các tổng, làng, bản. Song song với việc tăng cường và củng cố bộ máy hành chính, thực dân Pháp còn tăng cường bộ máy quân sự, cảnh sát, tòa án, nhà tù nhằm nhanh chóng hoàn thành triệt để công cuộc bình định, để “phòng thủ Đông Dương”, “ mở rộng quyền lợi của nước Pháp ở vùng Viễn Đông, nhất là các nước lân cận với Đông Dương” và phục vụ cho công cuộc khai thác, bóc lột. Đi đôi với bộ máy quân sự, cảnh sát đó là hệ thống pháp luật khắc nghiệt với chế độ riêng cho từng xứ cùng hệ thống tòa án, nhà tù dầy đặc khắp Việt Nam. Từ huyện, phủ, châu trở lên đều có nhà tù và trại giam.

Ngoài ra thực dân Pháp còn 9 c thực hiện nhiều thủ đoạn chia rẽ dân tộc và tôn giáo. Bộ máy chính quyền của thực dân Pháp được thiết lập trên cơ sở của sự cấu kết chặt chẽ giữa thực dân Pháp với giai cấp phong kiến phản động do thực dân Pháp chi phối nhằm thực hiện chính sách khai thác, bóc lột vô cùng tàn bạo của chúng Về xã hội, nhà Nguyễn dùng luật pháp hà khắc, quân đội, nho giáo phản động làm công cụ kìm kẹp nhân dân về mọi mặt, cho nên mâu thuẫn xã hội vốn đã có mâu thuẫn nay càng trở nên gay gắt, quyết liệt hơn. Hàng loạt các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra và kéo dài. Vì đời sống cơ cực, tô thuế, sưu dịch nặng nề và bởi các chính sách đối nội đối ngoại không phù hợp của triều Nguyễn nên các cuộc khởi nghĩa liên tục nổ ra, khó có thể dập tắt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tư Tưởng Cải Cách Của Nguyễn Trường Tộ Và Ý Nghĩa Trong Đổi Mới Việt Nam" khám phá những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ, một nhân vật quan trọng trong lịch sử Việt Nam, và cách mà những tư tưởng này có thể áp dụng trong bối cảnh đổi mới hiện nay. Tác phẩm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải cách trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và xã hội, đồng thời chỉ ra những bài học quý giá từ quá khứ có thể giúp Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ cải cách kinh tế xã hội của Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai và vai trò của Mỹ, nơi phân tích những cải cách kinh tế thành công của Nhật Bản và vai trò của Mỹ trong quá trình này. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ tư tưởng cải cách Hồ Quý Ly và ý nghĩa lịch sử của nó cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về những cải cách trong lịch sử Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về bối cảnh và ý nghĩa của các tư tưởng cải cách. Cuối cùng, tài liệu Luận văn những tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ và ý nghĩa của nó trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về những đóng góp của Nguyễn Trường Tộ trong công cuộc đổi mới.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về cải cách, từ đó giúp bạn hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của tư tưởng cải cách trong sự phát triển của Việt Nam.