PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Ca dao là những câu hát phản chiếu đời sống tâm hồn, đời sống tình cảm của ngƣời bình dân, chứa đựng những đạo lí dân gian sâu sắc. Ca dao ra đời từ ngàn xƣa, gắn với cuộc sống trăm đắng ngàn cay nhƣng đậm tình nặng nghĩa. Những tác phẩm ở thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con ngƣời trong lao động trong sinh hoạt gia đình xã hội hay nói lên những kinh nghiệm sống và hành động thì bao giờ cũng là bộc lộ thái độ chủ quan của con ngƣời đối với những thế giới khách quan.
Đề tài ca dao bắt nguồn từ thực tế cuộc sống lao động sản xuất và sinh hoạt đời thƣờng, từ những rung động tinh tế trƣớc thiên nhiên, từ đời sống thuần hậu chất phác của ngƣời lao động. Chính vì thế, những hình ảnh ca dao mộc mạc nhƣng mang theo bao hơi thở tâm tình, những nỗi niềm thân phận. Toát lên từ những lời ca là ý thức về phẩm giá, nhân cách, là những tình cảm thƣơng nhớ đợi chờ, là khát vọng đƣợc sẻ chia, là ƣớc ao về cuộc sống thủy chung mặn nồng. Từ trƣớc đến nay, tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về từ ngữ trong ca dao, nhƣng việc tìm hiểu giá trị của từ ngữ chỉ các hiện tƣợng thiên nhiên – tự nhiên trong ca dao còn hữu hạn.
Với khả năng hạn hẹp của mình, chúng tôi chỉ nghiên cứu từ ngữ chỉ các hiện tƣợng thiên nhiên – tự nhiên trong ca dao. Với đề tài này chúng tôi muốn làm rõ hơn về từ ngữ chỉ các hiện tƣợng thiên nhiên – tự nhiên trong ca dao Việt Nam dƣới ánh sáng của ngôn ngữ học. Nghiên cứu về đề tài này, mặc dù đã cố gắng hết khả năng nhƣng chắc chắn bài viết sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết, chính vì vậy, ngƣời viết rất mong nhận đƣợc sự đóng góp từ phía thầy cô và bạn bè. Hy vọng với những điều làm đƣợc ở đề tài này, phần nào giúp cho ngƣời đọc hiểu sâu hơn về từ ngữ chỉ các hiện tƣợng thiên nhiên – tự nhiên trong ca dao Việt Nam.
Lịch sử vấn đề Nói đến ca dao ta không thể nào quên đây là một loại hình nghệ thuật dân gian của Việt Nam. Nhiều bài ca dao dễ học, dễ thuộc, đã đi vào đời sống, vào lòng ngƣời đọc. Ca dao chủ yếu viết về đề tài quê hƣơng, tình yêu, thiên nhiên, đất nƣớc, con ngƣời…. GVHD: Nguyễn Thị Thu Thủy 3 SVTH: Huỳnh Mộng Linh Từ ngữ chỉ các hiện tƣợng thiên nhiên – tự nhiên trong ca dao Việt Nam Từ trƣớc đến nay, đã xuất hiện khá nhiều công trình nghiên cứu về từ ngữ tiếng Việt.
Dƣới đây ngƣời viết xin điểm qua một số công trình về ngôn ngữ làm nền cho quá trình nghiên cứu: Trong giáo trình “ Từ vựng tiếng Việt”, nhà xuất bản Đại học sƣ phạm, 2006, Đỗ Hữu Châu đã khái quát về từ vựng học Tiếng việt. Ông cho rằng “ Từ vựng của Tiếng Việt là hệ thống các từ và ngữ cố định. Từ là đơn vị từ vựng chủ yếu của từ vựng”. Theo Đỗ Hữu Châu, nghĩa của các từ miêu tả bao gồm: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa ngữ pháp, nghĩa biểu thái và nghĩa liên hội.
Còn nghĩa của các từ phi miêu tả chỉ có tính chất biểu niệm. Đồng thời ông còn trình bày một cách hệ thống về hiện tƣợng nhiều nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ. Trong phần này Đỗ Hữu Châu đã nêu lên khái niệm, nguyên nhân, các dạng chuyển nghĩa, phƣơng thức và cơ chế chuyển nghĩa, phân biệt chuyển nghĩa từ vựng và chuyển nghĩa tu từ. Trên cơ sở này Đỗ Hữu Châu giới thiệu về các trƣờng từ- ngữ nghĩa, tức là hệ thống các đơn vị từ vựng xét theo sự đồng nhất và đối lập về nghĩa.
Ông chia thành trƣờng dọc và trƣờng ngang. Sau cùng ông đã chỉ ra các quan hệ cấp loại, toàn bộ- bộ phận, đồng nghĩa- trái nghĩa, đồng âm- gần nghĩa. Có thể nói, Đỗ Hữu Châu đã lí giải những vấn đề trên xét trong nội bộ từ vựng. Trong “ Các bình diện của tu từ và từ vựng”, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997, Đỗ Hữu Châu đã nghiên cứu từ dƣới các bình diện: chức năng, ngữ nghĩa, cấu tạo, ngữ pháp.
Trong đó, ông làm khá rõ vấn đề cấu tạo của từ dƣới các phƣơng thức: phƣơng thức từ hóa hình vị, phƣơng thức phức hóa hình vị, phƣơng thức tƣơng liên hóa. Ngoài ra, ông còn làm rõ ranh giới giữa các kiểu cấu tạo từ. Trong “ Từ và nhận diện từ” nhà xuất bản Giáo dục, 1996, Nguyễn Thiện Giáp đã xác định từ là đơn vị cơ bản của từ vựng. Ông đã khảo sát các thuộc tính của từ.
Bên cạnh đó, tác giả cũng nghiên cứu về ngữ cố định đơn vị tƣơng đƣơng với từ tiếng Việt. Ngoài ra, trong “ Từ vựng học tiếng Việt” nhà xuất bản giáo dục, 2003, Nguyễn Thiện Giáp đã coi mỗi tiếng nhƣ là một từ và tác giả chứng minh một cách thấu đáo và tỉ mỉ. Những đơn vị do tiếng kết hợp với tiếng đƣợc tác giả gọi chung là ngữ, bao gồm ngữ định danh, thành ngữ, ngữ láy âm và quán ngữ. Bên cạnh đó tác giả đi phân tích cơ cấu ngữ nghĩa của từ vựng trên các trƣờng hợp: nghĩa và ngữ cảnh, hiện tƣợng đa nghĩa, hiện tƣợng đồng âm, hiện tƣợng trái nghĩa, GVHD: Nguyễn Thị Thu Thủy 4 SVTH: Huỳnh Mộng Linh Từ ngữ chỉ các hiện tƣợng thiên nhiên – tự nhiên trong ca dao Việt Nam hiện tƣợng từ tƣơng tự.
Ngoài ra ông còn phân tích về sự hình thành, tồn tại và phát triển của từ vựng học tiếng Việt. Trên đây là những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học, tuy nhiên chúng tôi xin điểm qua những công trình nghiên cứu về ca dao Việt Nam: “ Tục ngữ phong dao” của Nguyễn Văn Ngọc, nhà xuất bản Hà Nội, 1928 và “Việt Nam Văn học sử yếu” của Dƣơng Quản Hàm, Sài Gòn 1956 có viết không ai biết rõ ca dao có từ bao giờ và những ai là tác giả. Ca dao đã đƣợc truyền khẩu và gọt giũa từ đời nọ qua đời kia nên câu văn rất tự nhiên, trong sáng và biểu lộ tính tình, phong tục của dân tộc ta một cách chất phát chân thực. Do đó, ca dao còn đƣợc gọi là văn chƣơng bình dân hay văn chƣơng truyền khẩu.
Ca dao rất phong phú, có cả hàng trăm ngàn câu, nói về đủ mọi đề tài của cuộc sống con ngƣời. Trong “ Biểu trưng trong ca dao Nam Bộ” của Trần Văn Nam, nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội, năm 2010, cho rằng, phần lớn những biểu trƣng trong ca dao chữa đặc điểm của ngôn ngữ tƣợng trƣng phổ biến đồng thời chúng phải là những hình ảnh mang tính truyền thống, nghĩa là đƣợc tác giả ca dao sử dụng nhiều lần với những nét nghĩa ổn định. Một số biểu trƣng khác chứa đặc điểm của ngôn ngữ tƣợng trƣng ngẫu nhiên. Có thể một vài biểu trƣng xuất hiện với tần số không cao nhƣng tƣ cách biểu trƣng của chúng đã đƣợc chấp nhận trong môi trƣờng văn hóa dân gian, nghĩa là trong tâm thức của tác giả ca dao.
Hà Công Tài có bài viết: “ Biểu tượng trăng trong thơ ca dân gian” Tạp chí văn hóa số 5 – 1998. Trong bài viết tác giả chỉ đề cập tới một biểu tƣợng duy nhất trong thơ ca dân gian đó là “ trăng”, Hà Công Tài đã giải thích biểu tƣợng “trăng” trong ca dao Việt Nam, trong đó tác giả có nhắc đến biểu tƣợng “ trăng” xuất hiện cùng những hình ảnh sóng đôi. Nguyễn Thị Ngọc Điệp: “ Tìm hiểu nguồn gốc biểu tượng trong ca dao”, kỷ yếu khoa học năm 1999, khoa Nhân văn, Trƣờng Đại học Sƣ Phạm TPHCM. Bài viết thể hiện sự quan tâm nghiên cứu về nguồn gốc của các biểu tƣợng trong ca dao.
Theo tác giả, có ba điểm xuất phát làm thành biểu tƣợng trong ca dao. Điểm thứ nhất là do phong tục tập quán của ngƣời Việt Nam, từ quan niệm dân gian, tín ngƣỡng dân gian. Điểm thứ hai là từ văn học cổ Việt Nam và Trung Quốc. Điểm thứ ba là từ sự quan sát trực tiếp hằng ngày của nhân dân.
GVHD: Nguyễn Thị Thu Thủy 5 SVTH: Huỳnh Mộng Linh Từ ngữ chỉ các hiện tƣợng thiên nhiên – tự nhiên trong ca dao Việt Nam “ Tục ngữ ca dao Việt Nam”, nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 1977. Trong lời giới thiệu, tác giả Vũ Ngọc Phan đã khẳng định: “ Nhân dân Việt Nam đã đem hình ảnh con cò và con bống vào ca dao – dân ca là đƣa một nhận thức đặc biệt về một khía cạnh của cuộc đời văn nghệ, lấy cuộc đời của những con vật để tƣợng trƣng vài nét đời sống của mình”. Tác giả Hà Thị Quế Hƣơng với bài viết “ Hàm ý biểu trưng của từ chỉ hoa và tên hoa trong ca dao” trong Tạp chí Văn học dân gian số 3 – 2001. Trong bài viết, tác giả tìm hiểu hàm nghĩa của từ chỉ hoa và các tổ hợp có tên các loài hoa, chƣa đi vào phân tích cụ thể ý nghĩa và giá trị sử dụng của các từ chỉ tên hoa trong ca dao một cách cụ thể.
Nguyễn Xuân Kính trong quyển “ Thi pháp ca dao”, nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội. Tác giả dành nguyên một chƣơng bảy ( từ trang 309 – 350) để nói về “ Một số biểu tƣợng hình ảnh” trong ca dao, trong đó ông nói đến các hình ảnh trong nhiên nhiên – tự nhiên và phân loại các từ chỉ hiện tƣợng trong ca dao thành hai tiểu mục ( 1. Thế giới các hiện tƣợng tự nhiên bao gồm : các hiện tƣợng tự nhiên, thế gới các loài thực vật, thế giới các loài động vật; 2. Thế giới các vật thể nhân tạo bao gồm: đồ dùng cá nhân, dụng cụ sinh hoạt gia đình, công cụ sản xuất).
Nhƣ vậy, thông qua các đề tài đã đƣợc các tác giả nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy vấn đề về từ chỉ các hiện tƣợng thiên nhiên – tự nhiên trong ca dao Việt Nam vẫn còn là một chỗ trống và đó là cơ hội để chúng tôi nghiên cứu đề tài này. Mục đích nghiên cứu Với đề tài “ Từ ngữ chỉ các hiện tƣợng thiên nhiên – tự nhiên trong ca dao Việt Nam” chúng tôi có dịp nghiên cứu và tìm hiểu từ ngữ chỉ các hiện tƣợng thiên nhiên – tự nhiên trong ca dao Việt Nam, phân tích những giá trị ngữ nghĩa, cùng sự liên tƣởng độc đáo của ngƣời Việt qua lớp từ này trong ca dao.